vanban.org

Bản án 49/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc M ly hôn anh Đồng Văn B.

Về con chung: Giao con chung Đồng Huy H- sinh ngày 29/5/2014 cho anh Đồng Văn B tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Ghi nhận chị Nguyễn Thị Ngọc M cấp dƣỡng nuôi con chung đối với cháu Đồng Huy H là 2.000.000đ/tháng kể từ tháng 9/2023 đến khi con đủ 18 tuổi t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngọc M và Đồng Văn B"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc M ly hôn anh Đồng Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 11/9/2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
chung khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Bách.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai và ông Nguyễn Văn Thành.

- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Quốc Cƣờng- Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Loan- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 235/2023/TLST-HNGĐ ngày 29/6/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”. Theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/8/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 29 ngày 30/8/2023, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1990.

HKTT: KDC C, phƣờng C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.

Chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã C, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Vắng mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Đồng Văn B, sinh năm 1983.

Địa chỉ: KDC C, phƣờng C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, Bản tự khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc M trình bày: Chị M và anh Đồng Văn B, đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, tổ chức đăng ký tại UBND xã C (nay là phƣờng C) ngày 15/3/2013, hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo nghi thức truyền thống. Sau ngày cƣới chị M về nhà anh B tại thôn C, xã C chung sống. Vợ chồng chung sống đƣợc thời gian ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, anh B ham chơi không chịu lao động và thƣờng xuyên xúc phạm chị M. Năm 2016 chị M đi lao động tại Đài Loan, đến năm 2019 chị về nƣớc nhƣng tình cảm và quan hệ vợ chồng không đƣợc cải thiện, sau đó chị M lại đi lao động đến đầu năm 2023 về nƣớc nhƣng cũng không về nhà anh B nữa, chị M về thăm nhà thăm con nhƣng bị anh B ngăn cản, chị M có đón con về ngoại chơi vài ngày nhƣng sau đó anh B ngăn cấm. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên chị M xin đƣợc ly hôn với anh Đồng Văn B.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Đồng Huy H- sinh ngày 29/5/2014. Hiện con chung đang ở với anh B và gia đình bên nội tại KDC C, phƣờng C. Khi ly hôn nguyện vọng chị cũng muốn xin đƣợc nuôi dƣỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu anh B cấp dƣỡng nuôi con cùng nhƣng còn tùy thuộc nguyện vọng của cháu H và quan điểm của anh B. Trƣờng hợp anh B muốn nuôi con và nguyện vọng của cháu H muốn ở với bố thì chị cũng đồng ý. Và nếu anh B có yêu cầu cấp dƣỡng nuôi con chung chị đồng ý mức cấp dƣỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng cho anh B.

Về quan hệ tài sản, vay nợ, công sức chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do anh B không đến Tòa án làm việc, gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án nên chị M có đơn đề nghị Tòa án tiến hành xác minh thu thập tài liệu chứng cứ, sớm đƣa vụ án ra xét xử.

Bị đơn anh Đồng Văn B đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhƣng cố ý không đến Tòa án làm việc. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ngƣời thân thích là bà Lê Thị P (mẹ đẻ anh B và hiện sống chung nhà) nhận thay theo quy định.

Tại Công văn số 24186/QLXNC-P5 của Cục quản lý xuất nhập cảnh- Bộ Công an: Theo thông tin trên cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất nhập cảnh Đồng Văn B, sinh ngày 23/10/1983, CCCD số xxxxxxxxxxxx đƣợc cấp hộ chiếu số xxxxxxxxx ngày 26/4/2023, hiện chƣa có thông tin xuất cảnh.

Ngƣời làm chứng bà Lê Thị P (là mẹ đẻ anh Đồng Văn B, mẹ chồng chị Nguyễn Thị Ngọc M) cung cấp: Chị M và anh B đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, tổ chức đăng ký tại UBND xã C (nay là phƣờng C) ngày 15/3/2013, hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo nghi thức truyền thống. Sau ngày cƣới chị M về nhà bà chung sống cùng anh B, năm 2014 thì sinh con, năm 2016 thì đi lao động ở nƣớc ngoài, năm 2019 về nƣớc thì có về nhà còn những lần sau thì về nhà đẻ tại Bắc Giang ở. Quá trình chung sống thì bà thấy vợ chồng chị M anh B không có mâu thuẫn gì lớn, gần đây bà mới biết mâu thuẫn vợ chồng và chị M có đơn xin ly hôn với anh B. Khi nhận đƣợc các văn bản tố tụng của Tòa án gửi anh B bà đã nhận thay và thông báo cho anh B nhƣng anh B nói là mặc kệ chị M và Tòa án giải quyết một vế, không đến Tòa án làm việc.

Về con chung: Vợ chồng chị M, anh B có 01 con chung là Đồng Huy H-sinh ngày 29/5/2014. Hiện con cháu đang ở với anh B và gia đình bà tại KDC C, phƣờng C.

Tại Biên bản ghi lời khai của cháu Đồng Huy H, ngày 08/8/2023, thể hiện: Cháu Đồng Huy H- sinh ngày 29/5/2014, hiện nay đã học xong lớp 4 Trƣờng Tiểu học C. Cháu là con của bố Đồng Văn B và mẹ là Nguyễn Thị Ngọc M. Hiện nay cháu đang ở với bố và bà nội tại KDC C, phƣờng C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng. Nếu bố mẹ cháu ly hôn, không sống chung cùng nhau thì nguyện vọng của cháu muốn ở với bố là Đồng Văn B và bà nội. Nguyện vọng của cháu là hoàn toàn tự nguyện không ai ép buộc gì.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc M vắng mặt có đơn, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Bị đơn anh Đồng Văn B vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh bày tỏ quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký tòa án trong quá trình thu thập chứng cứ, tiến hành tố tụng tại phiên toà đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đƣơng sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Về đƣờng lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án, lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc M ly hôn anh Đồng Văn B; Về quan hệ con chung: Giao con chung Đồng Huy H- sinh ngày 29/5/2014 cho anh Đồng Văn B đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Ghi nhận chị Nguyễn Thị Ngọc M cấp dƣỡng nuôi con chung đối với cháu Đồng Huy H là 2.000.000đ/tháng kể từ tháng 9/2023 đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác và đƣợc quyền thăm nom con không ai đƣợc cản trở; Về tài sản, công sức, vay nợ chung: Không đặt ra việc xem xét, giải quyết; Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Ngọc M chịu 300.000đ án phí ly hôn và 300.000đ án phí cấp dƣỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đƣơng sự, ngƣời làm chứng đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

1.1. Bị đơn anh Đồng Văn B đăng ký hộ khẩu thƣờng trú và cƣ trú tại khu dân cƣ C, phƣờng C, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2. Nguyên đơn, bị đơn, ngƣời tham gia tố tụng khác đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đƣa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập đến tham gia tố tụng tại phiên tòa hợp lệ.

Bị đơn anh Đồng Văn B có mặt tại nơi cƣ trú, mặc dù đã đƣợc triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhƣng vẫn vắng mặt tại phiên tòa; Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc M có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đƣơng sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ngọc M và anh Đồng Văn B đƣợc tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, tổ chức đăng ký tại UBND xã C (nay là phƣờng C) ngày 15/3/2013, hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo nghi thức truyền thống nên là hôn nhân hợp pháp.

Xem xét về quá trình chung sống, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị M và anh B thấy rằng: Từ khi kết hôn năm 2013, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đƣợc thời gian ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không tìm đƣợc tiếng nói chung và một phần do điều kiện vợ chồng sống cách xa nhau từ khi chị M đi lao động ở nƣớc ngoài năm 2016; khi chị M về nƣớc cũng không sống chung với anh B, anh B cũng không tìm đón; chị M có đơn khởi kiện ly hôn tại Tòa án anh B cũng không đến làm việc, hòa giải có ý bỏ mặc tình trạng mâu thuẫn vợ chồng và có ý gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án ly hôn với chị M của Tòa án. Quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh B tuy vẫn duy trì về mặt pháp lý nhƣng thực tế không thể hiện sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình đã vi phạm ngh a vụ vợ chồng; làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình. Do vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ngọc M xin ly hôn với anh Đồng Văn B.

Về con chung: Xác định cháu Đồng Huy H- sinh ngày 29/5/2014 là con chung của chị Nguyễn Thị Ngọc M và anh Đồng Văn B, hiện cháu H đang sống ổn định cùng anh B và gia đình bên nội. Khi ly hôn nguyện vọng của chị M cũng muốn đƣợc nuôi dƣỡng con chung nhƣng còn tùy ý kiến của anh B và nguyện vọng của cháu H; anh Đồng Văn B vắng mặt, không có quan điểm; cháu Đồng Huy H có nguyện vọng muốn ở cùng anh B và gia đình bên nội và thực tế đã và đang ở ổn định từ năm 2016 đến nay. Vì vậy, cần giao cho anh B tiếp tục nuôi dƣỡng con chung đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Về cấp dƣỡng nuôi con chung: Do anh Đồng Văn B vắng mặt, không có quan điểm. Tuy nhiên để đảm bảo cuộc sống sinh hoạt của cháu H cũng nhƣ sự tự nguyện của chị M nên ghi nhận việc cấp dƣỡng nuôi con chung của chị M là 2.000.000đ/tháng kể từ tháng 9/2023 đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Chị M đƣợc quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng con chung không ai đƣợc cản trở là phù hợp theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản, vay nợ, công sức chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc M là nguyên đơn và cấp dƣỡng nuôi con nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn và án phí cấp dƣỡng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Từ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc M ly hôn anh Đồng Văn B.

2. Về con chung: Giao con chung Đồng Huy H- sinh ngày 29/5/2014 cho anh Đồng Văn B tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác. Ghi nhận chị Nguyễn Thị Ngọc M cấp dƣỡng nuôi con chung đối với cháu Đồng Huy H là 2.000.000đ/tháng kể từ tháng 9/2023 đến khi con đủ 18 tuổi thành niên hoặc có thay đổi khác và đƣợc quyền thăm nom con không ai đƣợc cản trở.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án chậm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về tài sản, công sức, vay nợ: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn 300.000đ và 300.000đ án phí cấp dƣỡng, đƣợc trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0003899, ngày 29/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng, chị M còn phải nộp tiếp 300.000đ.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định.

Trƣờng hợp bản án, quyết định này đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ