- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Đ - Trương Thanh C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn với anh Trương Thanh C.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2023/HNGĐ-ST Ngày: 19-6-2023 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Phong Hiếu;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Hồng Thảo;
2. Bà Nguyễn Thị Xuân Mai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Vinh – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trân Quốc Vƣơng.
Ngày 19 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 328/2022/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Ấp H, xã Q, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
* Bị đơn: Anh Trƣơng Thanh C, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Ấp H, xã Q, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
(Chị Đ xin vắng mặt; Anh C vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nội dung trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ:
Sau một thời gian tìm hiểu và được sự đồng ý của hai bên gia đình, anh chị quyết định tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật và được Ủy ban nhân dân xã Phú Quý, huyện Cai Lậy (nay là thị xã Cai Lậy), tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 52, quyển số 01/06 vào ngày 25/5/2006.
Thời gian đầu, anh chị chung sống hạnh phúc và có với nhau 01 con chung tên Trương Thanh P, sinh ngày 25/4/2007. Đến năm 2011 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp nhau về tính cách, bất đồng về quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vả, làm cho đời sống hôn nhân không có hạnh phúc.
Chị Đ đã nhiều lần cố gắng tìm cách hàn gắn tình cảm với anh C để không làm ảnh hưởng đến cuộc sống và học tập của con nhỏ nhưng anh C vẫn không thay đổi tính tình nên chị và anh C đã sống ly thân với nhau từ cuối năm 2017 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ yêu cầu ly hôn với anh Trương Thanh C;
- Về con chung: Khi ly hôn, chị Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu P; Chị Đ không có yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Tự thoả thuận. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Trương Thanh C vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
* Kết quả phiên họp về chứng cứ và hòa giải như sau:
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ giữ nguyên toàn bộ lời trình bày và yêu cầu khởi kiện; không có sửa đổi, bổ sung gì khác.
- Bị đơn anh Trương Thanh C:
+ Đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng, tài liệu và chứng cứ trong hồ sơ vụ án;
+ Anh C không có yêu cầu phản tố, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và không giao nộp tài liệu, chứng cứ tại phiên họp chứng cứ;
+ Đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt nên Tòa án tiến hành phiên họp về chứng cứ vắng mặt anh C và vụ án không tiến hành hòa giải được.
* Tại phiên toà:
- Chị Nguyễn Thị Đ xin vắng mặt;
- Anh Trương Thanh C vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã tiến hành theo đúng trình tự thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và đưa vụ án ra xét xử cũng như là trình tự, thủ tục tại phiên toà. Viện kiểm sát không có kiến nghị gì về vi phạm thủ tục tố tụng.
- Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ cũng như lời trình bày của các đương sự thể hiện:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Trương Thanh C có mâu thuẩn trong đời sống hôn nhân và không thể hàn gắn được nên xét thấy cần cho chị Đ ly hôn với anh C;
+ Về con chung: Cháu Trương Thanh P, sinh ngày 25/4/2007 hiện đang sống với chị Đ và vẫn phát triển bình thường. Mặt khác, tại bản tự khai của mình, cháu P có nguyện vọng được sống với mẹ nên cần tiếp tục giao cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận việc chị Đ không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: Chị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh C không có ý kiến gì về tài sản chung nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày của những người tham gia tố tụng. Toà án đi tới những nhận định về vụ án như sau.
* Về thủ tục tố tụng:
Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Chị Nguyễn Thị Đ và anh Trương Thanh C có đăng ký kết hôn. Chị Đ yêu cầu ly hôn và tranh chấp về nuôi con với anh C nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Trương Thanh C cư trú tại địa bàn thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang thụ lý và giải quyết theo đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ: Chị Đ có văn bản trình bày ý kiến gởi cho Tòa án và yêu cầu được xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Đ theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt bị đơn anh Trương Thanh C: Anh C đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh C theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ yêu cầu ly hôn với anh Trương Thanh C.
Chị Nguyễn Thị Đ và anh Trương Thanh C tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng khi đủ điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Quý, huyện Cai Lậy (nay là thị xã Cai Lậy), tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 52, quyển số 01/06 ngày 25/5/2006, nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Chị Đ cho rằng mâu thuẩn vợ chồng là do không hợp nhau về tính cách, bất đồng về quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải vả, làm cho đời sống vợ chồng không có hạnh phúc. Chị Đ đã nhiều lần cố gắng nhẫn nhịn và tìm cách hàn gắn nhưng anh C vẫn không thay đổi nên anh chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2019 cho đến nay.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không có văn bản gì thể hiện ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Đ, cũng như không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.
Từ các vấn đề nêu trên có thể nhận thấy, mâu thuẫn giữa chị Đ và anh C là có tồn tại nhưng anh C không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tình cảm giữa anh C và chị Đ không còn, dẫn đến đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Đ yêu cầu được ly hôn với anh C là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị Nguyễn Thị Đ và anh Trương Thanh C có với nhau 01 con chung tên Trương Thanh P, sinh ngày 25/4/2007. Khi ly hôn, chị Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu P và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Anh C vắng mặt và không có văn bản gì thể hiện ý kiến đối với yêu cầu nuôi con của chị Đ. Từ khi ly thân chị Đ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con và hiện cháu P vẫn đang phát triển lành mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần. Mặt khác, tại bản tự khai của mình, cháu P trình bày nguyện vọng được sống chung với mẹ. Vì vậy, việc giao cháu P cho chị Đ tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là cần thiết và phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì giao con cho chị Đ nuôi dưỡng nên anh C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, chị Đ không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của chị Đ, không vi phạm điều cấm của Luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Khi nuôi con, nếu các đương sự có tranh chấp về vấn đề cấp dưỡng thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ kiện khác.
Về tài sản chung:
Chị Nguyễn Thị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết. Mặt khác, anh Trương Thanh C không có văn bản gì thể hiện ý kiến đối với tài sản chung vợ chồng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Sau khi ly hôn, nếu các đương sự có tranh chấp về tài sản chung thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ kiện khác.
Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Đ.
Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn với anh Trương Thanh C.
2. Về con chung:
- Giao con chung tên Trương Thanh P, sinh ngày 25/4/2007 cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng;
- Ghi nhận việc chị Nguyễn Thị Đ không yêu cầu anh Trương Thanh C cấp dưỡng nuôi con;
- Anh Trương Thanh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng; nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0018268 ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, nên chị Đ đã nộp xong án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Trương Thanh C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND thị xã Cai Lậy; - Chi cục THADS thị xã Cai Lậy; - UBND xã Phú Quý, thị xã Cai Lậy; - Các đương sự trong vụ án; - Lưu: Hồ sơ, VPTA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Phong Hiếu |