- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Lê Thị X - Bị đơn Nguyễn Văn L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị X được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 05 - 2023 V/v: “Tranh chấp xin ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Lệ
2. Ông Mai Văn Bé Em
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Không.
Ngày 30 tháng 05 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 89/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 03 năm 2023, về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 05 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2023/QĐST-HN ngày 19 tháng 05 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị X, sinh năm 1985 (Có mặt)
Địa chỉ: Số 752 tổ 20, ấp T, xã T1, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1989 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 11/106A đường D, khu phố Ô, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 22/02/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Lê Thị X trình bày: Chị X và Nguyễn Văn L được mai mối rồi tổ chức lễ cưới vào ngày 17/10/2017al, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 136 ngày 30/11/2017. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống bên gia đình chồng tại số nhà 11/106A đường D, khu phố Ô, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang đến đầu năm 2018 thì chị X về nhà cha mẹ ruột sinh sống và vợ chồng sống ly thân từ ngày 18/02/2018 đến nay.
Lý do xin ly hôn: Do tính tình hai bên không hòa hợp, sau khi chị X về nhà cha mẹ ruột sinh sống anh L không quan tâm tới lui dần dần vợ chồng không còn qua lại với nhau. Nay xét thấy tình cảm giữa chị X và anh L không còn yêu thương nhau nên không thể hàn gắn vợ chồng do đó chị X yêu cầu được ly hôn với anh L.
Về con chung: Chị Lê Thị X xác định vợ chồng chung sống không có con chung, hiện nay chị X cũng không có mang thai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị X xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn: Chị Lê Thị X xác định không còn tình cảm yêu thương với anh L nữa và yêu cầu được ly hôn với anh L; Về con chung; Tài sản chung, nợ chung: Chị X giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng L vắng mặt, không có yêu cầu phản tố và không có văn bản trình bày ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Lê Thị X khởi kiện xin ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Văn L và anh L là bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại thành phố G, tỉnh Kiên Giang nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật của vụ án là "Tranh chấp xin ly hôn "; theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố G.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn L không có ý kiến trình bày về đơn khởi kiện xin ly hôn của chị X tại Tòa án. Tuy nhiên, Toà án đã làm đầy đủ thủ tục theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự như: Giao thông báo thụ lý vụ án và tống đạt hợp lệ các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án xét xử; nhưng anh L cố tình tránh mặt. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị X yêu cầu xét xử vắng mặt bị đơn anh L theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt anh L.
Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị X và anh Nguyễn Văn L được xác lập trên cơ sở tự nguyện; Có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật đã được Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Hiệp, thành phố G, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 136 ngày 30/11/2017 nên đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị X đối với anh L, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình chung sống vợ chồng chị X và anh L không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau để xây dựng mái ấm gia đình bền vững, hạnh phúc. Bởi lẻ, chị X xác nhận thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 02 năm 2018 thì chị về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ đó anh L không tới lui quan tâm đến chị X và vợ chồng sống ly thân đến nay. Trong thời gian chị X, anh L sống ly thân nhưng anh L vẫn không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Căn cứ khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về nghĩa vụ chứng minh của đương sự “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”. Anh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án, anh L không có sự phản đối nào đối với yêu cầu của chị X cũng như chứng cứ do chị X cung cấp.
Từ đó cho thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị X và anh L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị X đối với anh L là hoàn toàn có căn cứ phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Từ những cơ sở nhận định trên, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị X đối với anh L.
Về quan hệ con chung: Chị X xác định vợ chồng chung sống không có con chung, hiện nay chị X cũng không có mang thai nên không yêu cầu Toà án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị X xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh L không có ý kiến trình bày tại Tòa án về vấn đề con chung, tài sản chung, nợ chung; nếu sau này anh L có tranh chấp về các vấn đề trên thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị X là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 25, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị X được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.
2. Về con chung: Chị X xác định vợ chồng chung sống không có con chung, hiện nay chị X cũng không có mang thai nên chị X không yêu cầu Toà án giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị X xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Lê Thị X phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị X được khấu trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007144 ngày 28/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố G, tỉnh Kiên Giang.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/05/2023), đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND TP. G; - Chi cục THA dân sự TP. G; - Các đương sự; - UBND nơi ĐKKH; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Thị Thùy Linh |