vanban.org

Bản án 49/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của chị Đinh Thị H. Không chấp nhận yêu cầu xin đoàn tụ của anh Nông Văn H1.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đinh Thị H được ly hôn với anh Nông Văn H1. Về con chung: Giao cháu Nông Thị Như H2, sinh ngày 03/4/2013 và cháu Nông Trung H3, sinh ngày 19/6/2020 cho chị Đinh Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nông Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Thị H- Nông Văn H1"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của chị Đinh Thị H. Không chấp nhận yêu cầu xin đoàn tụ của anh Nông Văn H1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHIÊM HÓA
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 18-7-2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ - TỈNH TUYÊN QUANG

- TH1nh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Bích Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bích Hằng.

2. Ông Mai Thanh Tùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Vân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hoá tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Hoa- Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số: 113/2023/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2023.

1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị H, sinh năm 1992;

Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nông Văn H1, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đinh Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nông Văn H1 được tự do tìm hiểu, đi đến hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, tổ chức cưới hỏi theo phong tục, tập quán năm 2012, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang theo quy định của pháp luật vào ngày 14/5/2013. Sau khi kết hôn chị H và anh H1 sinh sống tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Khi mâu thuẫn xảy ra đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng sự việc không thay đổi, chị H và anh H1 sống ly thân với nhau từ tháng 02 năm 2023 đến nay. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn để quay về xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nông Văn H1.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị H, anh H1 sinh được 02 con chung là cháu Nông Thị Như H2, sinh ngày 03/4/2013 và cháu Nông Trung H3, sinh ngày 19/6/2020. Chị H có quan điểm đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, anh Nông Văn H1 trình bày: Về thời gian và địa điểm tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn như chị H trình bày là đúng, anh và chị H tự nguyện kết hôn theo phong tục tập quán vào năm 2012, đăng ký kết hôn năm 2013 tại UBND xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn anh và chị H sống tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, anh chị sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do cách sống, phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Khi mâu thuẫn xảy ra đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được, anh H1 và chị H đã sống ly thân từ tháng 02/2023 đến nay, chị H xin ly hôn, anh H1 không nhất trí vì tình cảm vợ chồng vẫn còn.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị H, anh H1 sinh được 02 con chung là cháu Nông Thị Như H2, sinh ngày 03/4/2013 và cháu Nông Trung H3, sinh ngày 19/6/2020. Anh H1 có quan điểm đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nông Trung H3 và không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị Đinh Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến như trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản tiếp cận công khai chứng cứ. Anh Nông Văn H1 có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến như trong bản tự khai.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định; các đương sự xin xét xử vắng mặt nên áp dụng các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của chị Đinh Thị H, cho chị Đinh Thị H được ly hôn với anh Nông Văn H1.

- Về con chung: Giao cháu Nông Thị Như H2, sinh ngày 03/4/2013 và cháu Nông Trung H3, sinh ngày 19/6/2020 cho chị Đinh Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nông Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản và nợ chung chị Đinh Thị H và anh Nông Văn H1 xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết, do vậy không xem xét.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị H phải nộp toàn bộ tiền phí dân sự sơ thẩm (trong vụ án ly hôn) theo quy định. Anh Nông Văn H1 không phải nộp án phí. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về pháp luật tố tụng.

Chị Đinh Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang giải quyết cho chị ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Nông Văn H1; Anh Nông Văn H1 có hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn" và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang.

Chị Đinh Thị H và anh Nông Văn H1 có đơn xin xét xử vắng mặt, nên cần áp dụng các Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt đương sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện C đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ; thực hiện các thủ tục tống đạt văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về việc xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị H và anh Nông Văn H1 có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình; có đăng ký kết hôn vào ngày 14/5/2013 tại UBND xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống H phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do cách sống không hợp nhau. Hội đồng xét xử thấy rằng, cuộc sống chung của vợ chồng chị H và anh H1 không có sự gắn kết, chia sẻ trong cuộc sống để xây dựng một gia đình H phúc; cả hai đều đã không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, đã sống ly thân từ tháng 02/2023 đến nay, nên không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ. Anh Nông Văn H1 xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không nhất trí ly hôn. Hội đồng xét xử thấy rằng giữa anh H1 và chị H không có sự gắn kết trong cuộc sống, anh H1 xin đoàn tụ chỉ nhằm ràng buộc lẫn nhau. Như vậy, căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình thì tình trạng hôn nhân của chị H và anh H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử thấy rằng cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị H, xử cho chị H được ly hôn anh Nông Văn H1.

Về con chung: Chị Đinh Thị H và anh Nông Văn H1 có 02 con chung là cháu Nông Thị Như H2, sinh ngày 03/4/2013 và cháu Nông Trung H3, sinh ngày 19/6/2020, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu, không đề nghị anh H1 cấp dưỡng nuôi con, anh H1 có nguyện vong được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H3 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Cháu H2 có nguyện vọng được ở cùng chị H. Nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của chị H, anh H1 đều xuất phát từ tình cảm của người bố, người mẹ đối với con và phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cháu H2, cháu H3 đang ở cùng chị H, cả hai cháu còn nhỏ cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ, chị H hiện nay có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng cháu H2 và cháu H3. Anh H1 đã bị xử phạt vi phạm H1nh chính về H1nh vi sử dụng trái phép chất ma túy năm 2022, nên cần giao cháu Nông Thị Như H2, sinh ngày 03/4/2013 và cháu Nông Trung H3, sinh ngày 19/6/2020 cho chị Đinh Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình. Anh Nông Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp có sự thay đổi về điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục ảnh hưởng đến quyền lợi về mọi mặt của con và các bên đương sự có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đinh Thị H và anh Nông Văn H1 xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm (trong vụ án ly hôn), anh H1 không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm (trong vụ án ly hôn) theo quy định tại các Điều 143, 144, 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại điều 271 và điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự .

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 ; các Điều 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” của chị Đinh Thị H. Không chấp nhận yêu cầu xin đoàn tụ của anh Nông Văn H1.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đinh Thị H được ly hôn với anh Nông Văn H1.

2. Về con chung: Giao cháu Nông Thị Như H2, sinh ngày 03/4/2013 và cháu Nông Trung H3, sinh ngày 19/6/2020 cho chị Đinh Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nông Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm (trong vụ án ly hôn): Chị Đinh Thị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Chị H đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2021/0005564 ngày 24/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, nay được chuyển thành tiền án phí.

Anh Nông Văn H1 không phải chịu án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị H và anh Nông Văn H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ