vanban.org

Bản án 49/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 31/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T (tên thường gọi Nguyễn Văn C) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu T (tên thường gọi Nguyễn Văn C) 05 năm 06 tháng (năm năm sáu tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/12/2021. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 3 Đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Hữu T (tên thường gọi Nguyễn Văn C) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T (tên thường gọi Nguyễn Văn C) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2022/HSST
Ngày: 31/5/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Hằng

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Luân Văn Lý

2. Ông Nguyễn Văn Hòa

Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2022. Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2022/HSST ngày 22 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 80/2022/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu T (tên gọi khác: không) - Sinh ngày: 26/01/1970 tại thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Tên thường gọi: Nguyễn Văn C; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ 10, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ học vấn: 08/12 phổ thông; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên bố: Nguyễn Hữu G - sinh năm 1932 (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị K - sinh năm 1936 (đã chết); Anh, chị, em ruột: Có 07 anh em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Vợ, con: không.

Tiền sự: không.

Tiền án:

- Ngày 13/8/1997 Tòa án nhân dân thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 42 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 09 tháng tù về tội Sử dụng trái phép chất ma túy, tổng hợp hình phạt là 51 tháng tù.

- Ngày 29/9/2014 Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 08 năm tù (tái phạm) về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Nhân thân:

- Năm 1985 Công an tỉnh Cao Bằng đưa vào Trường giáo dưỡng Xuân Nguyên, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Ngày 16/11/1987 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 02 năm tù về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

- Ngày 22/5/2009 Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng từ ngày 28/12/2021 đến nay;

"Có mặt tại phiên tòa".

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 45 phút ngày 28/12/2021 tại tổ 10, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Công an phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng bắt quả tang Nguyễn Hữu T (sinh năm 1970; trú tại tổ 10, phường T, thành phố Cao Bằng) có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói giấy vệ sinh bên trong chứa 04 (bốn) gói nhỏ giấy bạc màu vàng và 02 (hai) gói giấy bạc màu trắng, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột.

Vào hồi 15 giờ 10 phút ngày 28/12/2021 tại Công an thành phố Cao Bằng, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tiến hành mở niêm phong phong bì tang vật cân xác định khối lượng chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột, kết quả: chất bột màu trắng có khối lượng là 0,12g (không phẩy mười hai gam).

Ngày 29/12/2021, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 09 đối với vật chứng của vụ án. Tại Kết luận giám định số 23/GĐMT ngày 06/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.

Quá trình điều tra xác định được: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 08 giờ 30 phút ngày 28/12/2021 Nguyễn Hữu T đi bộ từ nhà đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp và hỏi mua 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) Heroine với 01 người đàn ông khoảng 45 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ), người đàn ông đồng ý, nhận tiền rồi lấy từ trong người ra 01 (một) gói giấy vệ sinh bên trong có 04 (bốn) gói giấy bạc màu vàng và 02 (hai) gói giấy bạc màu trắng, trong mỗi gói đều có chứa Heroine đưa cho T. Sau khi mua được Heroine, T đi bộ về nhà để tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực tổ 10, phường T, thành phố Cao Bằng thì bị Công an phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.

Hành vi của Nguyễn Hữu T đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKSTP ngày 22 tháng 4 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố Nguyễn Hữu T (tên thường gọi Nguyễn Văn C) về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của Nguyễn Hữu T đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận hành vi phạm tội của mình: Ngày 28/12/2021 T được mua ma túy với một người đàn ông khoảng 45 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) ở khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng với số tiền 600.000 đồng. T mua số ma túy ngày 28/12/2021 về mục đích để sử dụng cho bản thân. T chưa kịp sử dụng thì đã bị Công an bắt quả tang thu giữ vật chứng là ma túy (Heroine).

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hữu T nhất trí với khối lượng ma túy (heroine) bị thu giữ và nội dung bản Kết luận giám định số 23/GĐMT ngày 06/01/2022 và không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng.

Vật chứng bị thu giữ: 06 (sáu) gói nhỏ, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột (Heroine) có khối lượng 0,12 gam là vật chứng vụ án. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì đối với số vật chứng bị thu giữ.

Tại phiên toà Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hữu T về tội danh, điều luật như đã nêu trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm năm 2015. Về tội danh, tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Về hình phạt chính, đề nghị xử phạt bị cáo với mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập; Về xử lý vật chứng, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong tang vật vụ Nguyễn Hữu T. Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng.

Khi được nói lời sau cùng bị cáo biết việc làm của bị cáo là sai, là vi phạm quy định pháp luật, bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hữu T khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 28/12/2021 T đi bộ từ nhà đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng tìm mua ma túy. Tại đây, T mua được 01 gói Heroine với 01 người đàn ông khoảng 45 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng). Sau khi mua được Heroine, T đi bộ về nhà để tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực tổ 10, phường T, thành phố Cao Bằng, T chưa kịp sử dụng thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng (01 gói Heroine).

Tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Mục đích bị cáo mua số Heroine đó về để cho bản thân sử dụng, không có mục đích nào khác và thừa nhận việc mua Heroine do một mình bị cáo thực hiện, không có ai khác cùng tham gia. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định: Hồi 09 giờ 30 phút ngày 28/12/2021 tại khu vực tổ 10, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Công an phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng bắt quả tang Nguyễn Hữu T có hành vi tàng trữ trái phép 0,12g (không phẩy mười hai gam) Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi của Nguyễn Hữu T đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước ta về chất ma túy. Bị cáo là người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự. Là người có năng lực nhận thức, năng lực hành vi. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình gây ra. Mục đích của bị cáo mua số ma túy (heroine) đó về để cho bản thân sử dụng, không có mục đích khác, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Bị cáo nhận thức được hành vi bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Trong vụ án này Hội đồng xét xử xác định bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ trái phép là 0,12 gam nhưng trước đó bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, có lần phạm tội đã tái phạm chưa được xóa án tích, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp định khung hình phạt. Do đó, hành vi của Nguyễn Hữu T đã đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Bị cáo là người trưởng thành, bị cáo nhận thức rõ ma túy là hàng quốc cấm, pháp luật nghiêm cấm các hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy... đồng thời hiểu biết được sự nguy hiểm và tác hại của chất ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Khối lượng ma túy (heroine) bị cáo tàng trữ 0,12 gam nhưng do đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp định khung hình phạt. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố Nguyễn Hữu T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy với tình tiết định khung hình phạt "tái phạm nguy hiểm" quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hữu T (tên thường gọi Nguyễn Văn C) là trái pháp luật, là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không chỉ xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn là nguyên nhân làm nảy sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do nhu cầu sử dụng của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Vì vậy, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là đúng và cần thiết. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật, có như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có năng lực nhận thức, năng lực hành vi nhưng do lối sống buông thả bị cáo đã nghiện ma túy, bị cáo đã mua ma túy và có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo đã từng bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 13/8/1997 Tòa án nhân dân thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 42 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 09 tháng tù về tội Sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 29/9/2014 Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 08 năm tù (tái phạm) về tội Mua bán trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích. Xét nhân thân bị cáo là rất xấu, là đối tượng nghiện ma túy đã nhiều năm. Mặc dù đã được cải tạo, giáo dục nhiều lần nhưng khi về địa phương bị cáo không lấy đó làm bài học cho mình, vẫn coi thường pháp luật, tiếp tục sử dụng ma túy, tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận về hành vi mình đã thực hiện (mục đích mua ma túy về để sử dụng, không có mục đích nào khác). Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "thành khẩn khai báo" quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nên cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ này. Đồng thời, bị cáo có bố đẻ và mẹ đẻ là người có công với Cách mạng (bố được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất, mẹ được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba), đây cũng được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nên cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ này.

Bị cáo tàng trữ khối lượng ma túy (Heroine) là 0,12 gam, phạm tội thuộc trường hợp đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, đó là tình tiết định khung hình phạt nên không được coi là tình tiết tăng nặng, do đó bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "thành khẩn khai báo" quy định tại điểm s tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 và tình tiết bố đẻ, mẹ đẻ là người có công với Cách mạng quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015;

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T (tên thường gọi Nguyễn Văn C) với mức án từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù. Hội đồng xét xử xét thấy mức đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo Nguyễn Hữu T là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chấp nhận.

Về hình phạt chính: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, căn cứ tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản". Vì vậy, ngoài hình phạt chính theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng, xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án hiện đang tạm giữ tại kho tang vật của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo biên bản giao, nhận vật chứng số 63 ngày 25 tháng 4 năm 2022 gồm: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số 23/GĐMT, hoàn mẫu sau giám định vụ Nguyễn Hữu T có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 28/12/2021. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cần xử tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác: Trong vụ án này, về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, T khai mua với một người đàn ông khoảng 45 tuổi tại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng. Do không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể và việc trao đổi không ai biết nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng không có đủ căn cứ để xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T (tên thường gọi Nguyễn Văn C) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu T (tên thường gọi Nguyễn Văn C) 05 năm 06 tháng (năm năm sáu tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/12/2021.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xử:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số 23/GĐMT, hoàn mẫu sau giám định vụ Nguyễn Hữu T có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 28/12/2021. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng, kèm kết luận giám định ma túy số 23/GĐMT ngày 06/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng.

Xác nhận số vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo biên bản giao, nhận vật chứng số 63 ngày 25/4/2022.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Xử:

Bị cáo Nguyễn Hữu T (tên thường gọi Nguyễn Văn C) phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo (có mặt tại phiên tòa) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ