vanban.org

Bản án 49/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 21/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt Phạm Thị B 26 (Hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/02/2022. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước. Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo B 45 ngày kể từ ngày tuyên án 21/6/2022 để đảm bảo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự mua bán trái phép chất ma tuý. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thị B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN THÀNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH B NINH
Bản án số 49/2022/HSST
Ngày 21/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH - TỈNH B NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đức, ông Cao Vũ Hải.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa, Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh B Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2022/HSST ngày 26 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2022/QĐXXST-HS ngày 6 tháng 6 năm 2022 đối với:

Bị cáo Phạm Thị B, sinh năm 1996.

Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ.

HKTT: Thôn Đông Hương, thị trấn Thứa, huyện Lương Tài, tỉnh B Ninh.

Cư trú: Thôn Đồng Đoài, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh B Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 9/12. Bố đẻ: Phạm Văn Việt, sinh năm 1965. Mẹ đẻ: Vương Thị Hà, sinh năm 1968. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con út. Chồng: Nguyễn Đức Cảnh (đang ly thân). Con: Có 01 con sinh năm 2016.

Tiền án: 01 tiền án.

Tại bản án số 76/2019/HSST ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh B Ninh xử phạt Phạm Thị B 25 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ Luật hình sự. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/4/2021. Hiện chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/02/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B Ninh (có mặt tại phiên toà).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Đức Biên, sinh năm 1996. (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đa Tiện, xã Xuân Lâm, huyện Thuận Thành, tỉnh B Ninh.

2. Anh Phạm Văn Sơn, sinh năm 1989. (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Đồng Đoài, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh B Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 30 phút ngày 11/02/2022 tại đoạn đường đôi thuộc địa phận thôn Xuân Lê, xã Xuân Lâm, huyện Thuận Thành, tỉnh B Ninh. Lực lượng Công an xã Xuân Lâm đã bắt quả tang Phạm Thị B có hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Nguyễn Đức Biên.

Vật chứng thu giữ: Thu giữ 02 (hai) tờ tiền polime mỗi tờ mệnh giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), trong đó có 01 tờ có số seri NB1022339 và 01 tờ có số seri KX11717150 tại lòng đường vị trí mà B đang đứng, B khai tiền do B vừa thả từ tay xuống; Thu giữ tại túi áo khoác bên trái của B 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9 plus màu tím, bên trong gắn sim số 0359167380. Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của Biên 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng, Biên khai là ma túy mà Biên vừa mua được của B; Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của Biên có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Grand 2 màu vàng, bên trong gắn sim số 0383097395. Ngoài ra còn thu giữ của B 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exiter màu xanh - trắng (đề can bên ngoài dán màu đỏ-đen) biển kiểm soát 37B1- 791.97. Thu giữ của Biên 01 thẻ căn cước công dân số 027093011906 mang tên Nguyễn Đức Biên.

Tại Cơ quan điều tra B và Biên khai nhận như sau: Hồi 00 giờ 13 phút ngày 11/02/2022 B sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9 plus màu tím, bên trong gắn sim số 0359167380 truy cập facebook có nickname là "Bà Tướng" của B kết bạn với facebook có nickname là "Bom's Bảnh's" của Biên. Sau đó Biên sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Grand 2, màu vàng, bên trong gắn sim số 0383097395 nhắn tin qua ứng dụng "Messenger" cho B hỏi mua ma túy với số lượng là "3-1", tức là 300.000 đồng tiền ma túy đá và 100.000 đồng tiền ma túy ngựa. B đồng ý và hẹn đến sáng đi làm về thì giao cho Biên. Đến 15 giờ 33 phút cùng ngày, Biên vẫn sử dụng điện thoại di động trên liên lạc với B qua ứng dụng "Messenger" nhưng B không nghe máy. Sau đó, B gọi lại cho Biên và Biên hẹn B địa điểm giao ma túy tại đầu làng thôn Đức Hiệp, xã Xuân Lâm, huyện Thuận Thành. B đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại xe Exiter màu xanh - trắng (đề can bên ngoài dán màu đỏ- đen), biển kiểm soát 37B1- 791.97 đến ngã tư Đông Bình, thị trấn Gia Bình, huyện Gia Bình, tỉnh B Ninh mua ma túy đá và 01 viên nén màu hồng là ma túy ngựa, được đựng trong 01 túi nilon màu trắng của một người đàn ông mà B không biết tên tuổi, địa chỉ với giá 200.000 đồng. Sau đó, B cầm túi ma túy vừa mua được đi đến điểm hẹn với Biên. Khi B đi đến cổng chào đầu đường đôi thuộc xã Xuân Lâm, huyện Thuận Thành thì B quan sát thấy Biên. B liền đi đến chỗ Biên đứng và bảo Biên lên xe của B ngồi. B điều khiển xe chở Biên đi thẳng 01 đoạn rồi vòng lại đi ra hướng QL17. Trên đường đi thì B cầm ma túy bằng tay trái và đưa về phía sau lưng cho Biên. Biên nhận ma túy của B đồng thời đưa cho B 02 tờ tiền Polime, mỗi tờ mệnh giá 200.000 đồng, trong đó có 01 tờ có số seri NB1022339 và 01 tờ có số seri KX11717150. B cầm được tiền rồi dừng xe lại cho Biên xuống và điều khiển xe đi tiếp hướng ra QL17 để về nhà. Khi B vừa đi được khoảng 10m thì bị tổ công tác Công an xã Xuân Lâm, huyện Thuận Thành dừng xe kiểm tra. Do lo sợ bị phát hiện B đã thả 02 tờ tiền vừa bán ma túy cho Biên có được xuống mặt đường gần xe của B. Tổ công tác đã bắt giữ B và Biên, sau đó lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.

Tại bản Kết luận giám định số 202/ KLGĐMT - PC09 ngày 14/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B Ninh kết luận “Chất tinh thể màu trắng bên trong túi nilon màu trắng có khối lượng 0,0099gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine: 01 viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 0,0838 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine. Methamphetamine là tiền chất ma túy được quy định tại Nghị định số 73/2018/NĐ - CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ ban hành các chất ma túy và tiền chất”.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 48/CT-VKSTT ngày 25/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành đã truy tố Phạm Thị B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ Luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành đã truy tố và thừa nhận bản Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội. Anh Phạm Văn Sơn khai khi B mượn xe máy thì anh cũng không biết B sử dụng để đi bán ma tuý, anh đề nghị được trả lại chiếc xe để sử dụng. Anh Biên vắng mặt tại phiên toà nên không có ý kiến trình bày.

Trong phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày bản luận tội. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Thị B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự xử phạt Phạm Thị B từ 26 tháng đến 32 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/2/2022. Phạt bổ sung số tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự. Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B Ninh và chữ ký của Giám định viên; Tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại số 0359167380 và 01 sim điện thoại số 0383097395; Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9 plus màu tím htu giữa của bị cáo B, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Grand 2 màu vàng thu giữa của Biên và số tiền 400.000 đồng bao gồm 02 (hai) tờ tiền polime, mỗi tờ mệnh giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), trong đó có 01 tờ có số seri NB1022339 và 01 tờ có số seri KX11717150. Trả lại anh Phạm Văn Sơn 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại xe Exiter, màu xanh - trắng (đề can bên ngoài dán màu đỏ- đen) biển kiểm soát 37B1- 791.97.

Về án phí áp dụng điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo B nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Thị B tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định được: Vào hồi 17 giờ 30 phút ngày 11/02/2022 tại đoạn đường đôi thuộc địa phận thôn Xuân Lê, xã Xuân Lâm, huyện Thuận Thành, tỉnh B Ninh. Lực lượng Công an xã Xuân Lâm đã bắt quả tang Phạm Thị B có hành vi bán trái phép chất ma tuý gồm chất tinh thể màu trắng có khối lượng 0,0099gam; Là ma túy Methamphetamine: 01 viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng 0,0838 gam; Là ma túy Methamphetamine cho Nguyễn Đức Biên thu được số tiền 400.000 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Phạm Thị B đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ Luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho cộng đồng và xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, về sâu xa nó cũng là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội khác như trộm cắp, cướp giật cũng như gây lên mâu thuẫn trong gia đình, để lại hệ lụy xấu cho xã hội. Do vậy hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma túy là loại tội phạm mà cả xã hội đang lên án mạnh mẽ và tích cực đấu tranh. Do vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tích chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục chung, cải tạo riêng.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

Bị cáo B là người có nhân thân xấu, đã từng bị Toà án kết án về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Tại bản án số 76/2019/HSST ngày 28/11/2019 của Toà án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh B Ninh xử phạt B 25 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ Luật hình sự. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 26/4/2021. Do vậy bị cáo chưa được xoá án tích, lần phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ Luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì thế bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự. Đây là tình tiết để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phậm tội mua bán trái phép chất ma tuý với mục đích thu lợi bất chính nên cần phạt bị cáo một số tiền sung quỹ Nhà nước, phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 đồng.

. Liên quan đến vụ án có Nguyễn Đức Biên là người mua ma tuý của B với mục đích sử dụng cho bản thân. Do Biên chưa bị kết án về các tội về ma tuý, chưa bị xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, lượng ma tuý mà Biên tàng trữ không đủ định lượng để xử lý hình sự nên Cơ quan Công an huyện Thuận Thành chỉ xử phạt hành chính đối với Biên là đúng quy định.

Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho B ở khu vực ngã tư Đông Bình, huyện Gia Bình, B không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu, không có thông tin gì của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

. Tang vật vụ án: Mẫu vật ma tuý còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với số tài sản, tang vật bị tạm giữ liên quan đến tội phạm gồm: Số tiền 400.000 đồng là tiền B bán ma tuý cho Biên, đây là số tiền phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Tịch thu tiêu huỷ 01 thẻ sim số 0398.945.345 thu giữ của B và 01 thẻ sim 0398.179.592 thu giữ của Biên. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9 plus, màu tím thu giữ của B; 01 điện thoại Samsung Grand 2, màu vàng thu giữ của Biên là tài sản vật chứng liên quan đến tội phạm.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại xe Exiter, màu xanh - trắng (đề can bên ngoài dán màu đỏ- đen) biển kiểm soát 37B1- 791.97. Quá trình điều tra xác định được B đã mượn của anh Phạm Văn Sơn, khi cho B mượn xe anh Sơn không biết B dùng để đi bán ma tuý nên cần trả lại cho anh Sơn chiếc xe này.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ Luật hình sự. Điều 106; Điều 136; Điều 329 Bộ Luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, tuyên xử.

1. Xử phạt Phạm Thị B 26 (Hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/02/2022. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo B 45 ngày kể từ ngày tuyên án 21/6/2022 để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B Ninh. Bên ngoài phong bì có ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định kèm kết luận số 202/KLGĐMT-PC09 ghi ngày 14/02/2022 của phòng PC09. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 400.000 đồng, bao gồm 02 (hai) tờ tiền polime mỗi tờ mệnh giá 200.000 đồng, trong đó có 01 tờ có số seri NB1022339 và 01 tờ có số seri KX11717150 (đã nộp tài khoản Ngân hàng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Thành). Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu 01 Samsung Galaxy S9 plus màu tím, mặt lưng có dán đề can màu nâu thu giữ của B; 01 điện thoại Samsung Galaxy Grand 2, màu vàng thu giữ của Biên. Tịch thu tiêu huỷ 01 thẻ sim số 0398.945.345 thu giữ của B và 01 thẻ sim 0398.179.592 thu giữ của Biên.Trả lại anh Phạm Văn Sơn 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại xe Exiter, màu xanh - trắng (đề can bên ngoài dán màu đỏ- đen) biển kiểm soát 37B1- 791.97 đã qua sử dụng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/6/2022 giữa Công an huyện Thuận Thành với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Thành, tỉnh B Ninh).

3. Án phí: Bị cáo B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo B, anh Sơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Biên có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Cỡ chữ