- Tranh chấp gì? án hình sự — "Khoàng Văn Quân và Khoàng Thị Sợn phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Khoàng Văn Qvà Khoàng Thị S phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2022/HSST Ngày 22/9/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bằng
- Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Văn Thóc
2. Bà Hà Thị Thời
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Mào Thị Chiến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Đặng Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 22/9/2022, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn và điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 54/2022/HSST ngày 09/9/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2022/QĐXXST-HS ngày 12/9/2022 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Khoàng Văn Q; tên gọi khác: không;
Sinh năm 1990 tại Lai Châu;
Nơi ĐKHKTT: Bản Nậm Nhùn, thị trấn Nậm Nhùn, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu, nay là (Tổ dân phố Nậm Nhùn, thị trấn Nậm Nhùn, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông: Khoàng Văn Ch (đã chết) và con bà Lò Thị T, sinh năm 1965; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ, con: Không;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/5/2022 đến ngày 15/5/2022 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Nậm Nhùn cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Khoàng Thị S; tên gọi khác: không;
Sinh năm 1995 tại Lai Châu;
Nơi ĐKHKTT: Bản Nậm Cầy, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông: Khoàng Văn Ph, sinh năm 1962 và con bà Khoàng Thị B, sinh năm 1961; Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Chồng: Lý Văn L, sinh năm 1991, nơi cư trú: Xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, con: bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2016 con nhỏ nhất sinh ngày 04/4/2021;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/5/2022, đến ngày 15/5/2022, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
1. Anh Khoàng Văn Th, sinh năm 1992
Trú tại: Bản Nậm Cầy, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu (vắng mặt)
2. Anh Lò Văn Ch, sinh năm 1976
Trú tại: Tổ dân phố Nậm Nhùn, thị trấn Nậm Nhùn, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 45 phút, ngày 06/5/2022, Công an huyện Nậm Nhùn tiến hành tuần tra, kiểm soát tại khu vực đầu bản Nậm Cầy, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu, phát hiện Khoàng Văn Th, sinh năm 1992, trú tại bản Nậm Cầy, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Công an huyện Nậm Nhùn đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Khoàng Văn Th, thu giữ 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt qua lửa. Khoàng Văn Th khai nhận số ma túy Th vừa sử dụng là mua tại nhà Khoàng Văn Q, sinh năm 1990, trú tại Tổ dân phố Nậm Nhùn, thị trấn Nậm Nhùn, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
Tại Cơ quan điều tra Khoàng Văn Q và Khoàng Thị S khai nhận: Ngày 02/5/2022, Khoàng Văn Q và Khoàng Thị S rủ nhau lên bản Pa Mu, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, mục đích mua ma túy để sử dụng và bán kiếm lời, Q góp 3.000.000 đồng, S góp 2.000.000 đồng, tổng số tiền là 5.000.000 đồng. Khoảng 18 giờ cùng ngày, Qu điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 25H1- 005.88 chở S ngồi sau lên bản Pa Mu, xã Hua Bum. Đến nơi Q và S mua được ma túy với một người đàn ông không rõ lai lịch với số tiền 5.000.000 đồng được 01 gói, được gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu hồng rồi Q cho S cầm. Về nhà Q và S mở ra thấy bên trong có 01 cục Heroine và 15 viên hồng phiến. Q cắt nhỏ cục Heroine thành 18 gói và dùng bật lửa đốt túm lại một đầu. Sau đó, S cho 16 gói Heroine vào hộp đựng kính mắt để trên đầu giường, 02 gói Heroine còn lại và gói hồng phiến S để bên ngoài, cạnh hộp dựng mắt kính. Đến sáng ngày 06/5/2022, Q tách một ít Heroine từ một trong hai gói để bên ngoài ra sử dụng, phần còn lại Q dùng mảnh giấy nilon màu hồng gói lại, đặt cạnh gói hồng phiến trên đầu giường.
Khoảng 07 giờ, ngày 06/5/2022, khi Q và S đang ăn sáng thì có Lò Văn Chg, sinh năm 1976, trú tại tổ dân phố Nậm Nhùn, thị trấn Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu đến hỏi Khoàng Văn Q để mua Heroine với số tiền 100.000 đồng, Q đồng ý, S nhận tiền và lấy 01 gói Heroine được bọc bằng mảnh nilon màu hồng trong hộp kính mắt đưa cho Ch. Mua bán xong, Ch mang gói Heroine đến đầu tổ dân phố Nậm Nhùn sử dụng hết.
Tiếp đó, khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 06/5/2022, có Khoàng Văn Th đến nhà Khoàng Văn Q hỏi mua Heroine với số tiền 100.000 đồng Q đồng ý, rồi Thái đưa tiền qua ô cửa đằng sau nhà, thì S lấy 01 gói Heroine được bọc bằng mảnh nilon màu hồng trong hộp kính mắt đưa cho Th.
Hồi 10 giờ 50 phút, ngày 06/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nậm Nhùn tiến hành khám xét khẩn cấp người và nơi ở đối với Khoàng Văn Q, thu giữ 17 gói bên trong chứa chất bột màu trắng, 01 gói bên trong gồm 01 viên nén màu xanh, các viên nén màu hồng và các viên nén màu hồng đã bị nghiền nát; 01 xe mô tô biển kiểm soát 25H1- 005.88; 01 hộp nhựa màu đen (dạng hộp đựng kính mắt); thu giữ của Khoàng Thị S 200.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 04 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng là tiền Q và Sợn bán ma túy cho Khoàng Văn Th và Lò Văn Ch.
Cùng ngày 06/5/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nậm Nhùn đã mở niêm phong, xác định khối lượng và kết luận giám định tư pháp về khối lượng số 23, ngày 06/5/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nậm Nhùn, xác định: Toàn bộ chất bột khô màu trắng (ký hiệu M1, M2, M3) thu giữ của Khoàng Văn Q và Khoàng Thị S có khối lượng 11,71 gam và 01 gói gồm 01 viên nén màu xanh, các viên nén màu hồng và các viên nén màu hồng đã bị nghiền nát (ký hiệu M4) có khối lượng 2,41 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ của Khoàng Văn Q và Khoàng Thị S là 14,12 gam và đã trích lấy 4,96 gam chất bột khô, màu trắng và toàn bộ 2,41 gam, trong đó 01 viên nén màu xanh, các viên nén màu hồng và các viên nén màu hồng đã bị nghiền nát thu giữ của Khoàng Văn Q và Khoàng Thị S làm mẫu giám định chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 384/GĐ-KTHS ngày 10/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 03 Mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu M1, M2, M3) thu giữ của Khoàng Văn Quân và Khoàng Thị Sợn gửi đến giám định là ma tuý, loại Heroine;
01 Mẫu viên nén màu xanh, màu hồng và chất bột màu hồng (ký hiệu M4) thu giữ của Khoàng Văn Q và Khoàng Thị S gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine; (không hoàn lại mẫu vật gửi giám định).
Tại bản kết luận giám định số 382/GĐ-KTHS ngày 10/5/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) có Sezi là: WO 17574250; 04 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) có Sezi lần lượt là: DT 19301056; LS 20186098; LM 18492461 và 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) có Sezi lần lượt là: LO 19818188 và LT20336099 gửi đến giám định là tiền thật (Hoàn lại mẫu vật giám định).
Cáo trạng số 39/CT - VKS ngày 09 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu đã truy tố các bị cáo Khoàng Văn Q và Khoàng Thị S về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Điều 251 : Tội mua bán trái phép chất ma túy, quy định:
...
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
…
p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu giữ nguyên quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Khoàng Văn Q và Khoàng Thị S phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự;
Áp dụng điểm r, s khoản 1 Điều 51; khoản 2, Điều 251, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo Khoàng Văn Q và Khoàng Thị S từ 09 năm đến 10 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" và đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước những vật chứng: 01 xe máy mang nhãn hiệu YAMAHA Eciter, mang biển kiểm soát 25H1-005.88 là phương tiện phạm tội và số tiền 200.000 đồng là số tiền phạm tội mà có của các bị cáo và xử lý vật chứng khác theo quy định của pháp luật. Về án phí đề nghị theo quy định của pháp luật
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, trước Hội đồng xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ rõ sự ăn năn hối hận về hành vi của mình đã gây ra. Tại phần tranh luận, các bị cáo nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời trình bày của các bị cáo. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra huyện Nậm Nhùn, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định:
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Khoàng Văn Q và Khoàng Thị S đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở để khẳng định:
Khoảng 07 giờ, ngày 06/5/2022, các bị cáo Khoàng Văn Q và Khoàng Thị S đã có hành vi mua bán ma túy cho Lò Văn Ch, sinh năm 1976, trú tại tổ dân phố Nậm Nhùn, thị trấn Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu 01 gói Heroine với số tiền 100.000 đồng.
Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 06/5/2022, các bị cáo Khoàng Văn Q và Khoàng Thị S đã có hành vi mua bán ma túy Khoàng Văn Th, sinh năm 1992, trú tại, bản Nậm Cầy, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu 01 gói Heroine với số tiền 100.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu giữ tổng khối lượng ma túy của Khoàng Văn Q và Khoàng Thị S là 14,12 gam, mục đích các bị cáo Tàng trữ ma túy là để sử dụng và bán kiếm lời cho bản thân.
Do vậy, hành vi trên của các bị cáo Khoàng Văn Q và Khoàng Thị S đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" quy định tại điểm b, p khoản 2 điều 251 của Bộ luật hình sự.
Vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu đã truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy là để kiếm lời cho bản thân, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn. Hơn nữa, ma tuý còn là tác nhân làm gia tăng tội phạm, làm suy thoái nhân cách, phẩm giá, tàn phá cuộc sống yên vui của gia đình, gây xói mòn đạo lý, kinh tế xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi "Mua bán trái phép chất ma tuý " là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên các bị cáo đã cố ý thực hiện.
. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội mà mình gây ra. Xong khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Xét quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và ý kiến của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn tham gia phiên tòa đã đưa ra các căn cứ chứng minh về hành vi phạm tội và đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo. Xét thấy Khoàng Văn Th bị phát hiện về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, khi điều tra các bị cáo mới khai nhận hành vi mua bán ma túy cho Lò Văn Ch và một lần bán ma túy cho Khoàng Văn Th. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội tự thú theo điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà và trong quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số hiểu biết pháp luật còn hạn chế, các bị cáo đã khai nhận về hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho Khoàng Văn Th và Lò Văn Ch và đã giao nộp số tiền có được từ việc bán ma túy cho Ch và Th. Do vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế các bị cáo khó khăn, không có thu nhập ổn định nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
. Về vật chứng của vụ án:
- 6,75 gam Heroine còn lại sau giám định, được đựng trong một phong bì thư do Công an huyện Nậm Nhùn lưu hành. Mặt trước của bì niêm phong có ghi: Vật chứng còn lại sau khi mở niêm phong vụ Khoàng Văn Quân và đồng phạm – Hành vi: Mua bán trái phép chất ma túy. Mặt sau trên các mép dán bì niêm phong dùng mảnh giấy trắng dán đè lên, có chữ ký và ghi đầy đủ họ tên của Lò Văn Ví, Lý Văn Hưng, Lò Văn Vượng, Nguyễn Thành Đạt, Lù Văn Thọ, Khoàng Văn Quân và Khoàng Thị Sợn và đóng 02 dấu tròn màu đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nậm Nhùn ở hai đầu mép dán.
- Vỏ bì và mảnh nilon sau khi mở niêm phong vật chứng thu giữ của Khoàng Văn Q được đựng trong 01 phong bì thư do Công an huyện Nậm Nhùn lưu hành. Mặt trước của bì niêm phong có ghi: Vỏ bì, mảnh nilon sau khi mở niêm phong của Khoàng Văn Q và động phạm, hành vi: Mua bán trái phép chất ma túy. Mặt sau trên các mép dán bì niêm phong dùng mảnh giấy trắng dán đè lên, có chữ ký và ghi đầy đủ họ tên của Lò Văn Ví, Lý Văn Hưng, Lò Văn Vượng, Nguyễn Thành Đạt, Lù Văn Thọ, Khoàng Văn Q và Khoàng Thị S và đóng 02 dấu tròn màu đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nậm Nhùn ở hai đầu mép dán.
- 01 hộp nhựa màu đen (dạng hộp đựng kính) có chiều dài 15,5cm, chiều rộng 5,2cm, trên mặt hộp nhựa có dòng chữ Made in JAPAN và hình các kính.
- 01 mảnh giấy bạc đã qua sử dụng.
Xét thấy đây là số ma túy còn lại sau giám định là vật thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành là vật chứng thu giữ của Khoàng Văn Q và Khoàng Thị S và phong bì niêm phong các vật chứng và dụng cụ phạm tội trong vụ án, nên cần áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của các bị cáo, xét đây là tiền do các bị cáo phạm tội mà có nên cần áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền trên.
- Đối với 01 xe máy mang nhãn hiệu YAMAHA Eciter, màu sơn xanh – trắng có số khung 381366, số máy 381390, dung tích 134cm3, mang biển kiểm soát 25H1-005.88 (xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong).
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Hỏ Văn D.
Xét thấy đây là chiếc xe máy bị cáo Khoàng Văn Q đã mua của Hỏ Văn Dnăm 2021, là phương tiện mà các bị cáo đã dùng vào việc phạm tội nên cần áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nên cần tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước.
. Trong vụ án Khoàng Văn Q và Khoàng Thị S, khai nhận nguồn gốc số Heroine các bị cáo mua của một người đàn ông ngày 02/5/2022 không rõ lai lịch, địa chỉ. Do vậy Hội đồng xét xử không có căn cứ để xử lý người đàn ông nói trên.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Khoàng Văn Th và Lò Văn Chg đã bị Công an huyện Nậm Nhùn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo.
. Về án phí: Áp dụng Điều135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo Khoàng Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Khoàng Thị S sinh sống thuộc khu vực đặc biệt khó khăn nên cần áp dụng điểm đ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Khoàng Thị S;
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Khoàng Văn Qvà Khoàng Thị S phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
1. Về hình phạt:
Áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Khoàng Văn Q và Khoàng Thị S:
Xử phạt bị cáo Khoàng Văn Q 09 (Chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/5/2022.
Xử phạt bị cáo Khoàng Thị S 09 (Chín) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". Bị cáo được khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ 09 (Chín) ngày từ ngày 06/5/2022 đến ngày 15/5/2022, bị cáo còn phải chấp hành là 09 (Chín) năm 05 (Năm) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày. Thời hạn tù còn lại tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
¸p dông kho¶n 5 ĐiÒu 251 Bộ luật hình sự, miÔn h×nh bæ sung lµ ph¹t tiÒn cho các bÞ c¸o.
2. Về xử lý vật chứng của vụ án:
- Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:
+ 6,75 gam Heroine, được đựng trong một phong bì thư do Công an huyện Nậm Nhùn lưu hành. Mặt trước của bì niêm phong có ghi: Vật chứng còn lại sau khi mở niêm phong vụ Khoàng Văn Q và đồng phạm, hành vi: Mua bán trái phép chất ma túy. Mặt sau trên các mép dán bì niêm phong dùng mảnh giấy trắng dán đè lên, có chữ ký và ghi đầy đủ họ tên của Lò Văn Ví, Lý Văn Hưng, Lò Văn Vượng, Nguyễn Thành Đạt, Lù Văn Thọ, Khoàng Văn Q và Khoàng Thị S và đóng 02 dấu tròn màu đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nậm Nhùn ở hai đầu mép dán.
+ Vỏ bì và mảnh nilon sau khi mở niêm phong vật chứng thu giữ của Khoàng Văn Quân được đựng trong 01 phong bì thư do Công an huyện Nậm Nhùn lưu hành. Mặt trước của bì niêm phong có ghi: Vỏ bì, mảnh nilon sau khi mở niêm phong của Khoàng Văn Q và động phạm, hành vi: Mua bán trái phép chất ma túy. Mặt sau trên các mép dán bì niêm phong dùng mảnh giấy trắng dán đè lên, có chữ ký và ghi đầy đủ họ tên của Lò Văn Ví, Lý Văn Hưng, Lò Văn Vượng, Nguyễn Thành Đạt, Lù Văn Thọ, Khoàng Văn Q và Khoàng Thị S và đóng 02 dấu tròn màu đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nậm Nhùn ở hai đầu mép dán.
+ 01 hộp nhựa màu đen (dạng hộp đựng kính) có chiều dài 15,5cm, chiều rộng 5,2cm, trên mặt hộp nhựa có dòng chữ Made in JAPAN và hình các kính.
+ 01 mảnh giấy bạc (đã qua sử dụng).
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước những vật chứng:
+ 01 xe máy mang nhãn hiệu YAMAHA Eciter, màu sơn xanh – trắng có số khung 381366, số máy 381390, dung tích 134cm3, mang biển kiểm soát 25H1-005.88 (xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong).
+ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Hỏ Văn D.
+ 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng thu giữ của Khoàng Thị S, được niêm phong trong 01 phong bì thư do ngành bưu điện phát hành. Mặt trước của bì niêm phong có ghi: Mẫu vật hoàn lại sau giám định (01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng có mã số hiệu WO 17574250 thu giữ trong vụ Khoàng Thị S) kèm theo kết luận giám định số 382/KL- KTHS ngày 10/5/2022 của PC 09 Lai Châu. Mặt sau trên các mép dán bì niêm phong dùng mảnh giấy trắng dán đè lên, có chữ ký và ghi đầy đủ họ tên của Lò Văn Hội, Nguyễn Thị Kim Ánh và đóng 02 dấu hình tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu ở hai đầu mép dán.
- 04 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng thu giữ của Khoàng Thị S, được niêm phong trong 01 phong bì thư do ngành bưu điện phát hành. Mặt trước của bì niêm phong có ghi: Mẫu vật hoàn lại sau giám định (số tiền 100.000 đồng thu giữ trong vụ Khoàng Thị S) kèm theo kết luận giám định số 382/KL- KTHS ngày 10/5/2022 của PC 09 Lai Châu. Mặt sau trên các mép dán bì niêm phong dùng mảnh giấy trắng dán đè lên, có chữ ký và ghi đầy đủ họ tên của Lò Văn Hội, Nguyễn Thị Kim Ánh và đóng 02 dấu hình tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu ở hai đầu mép dán.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 14giờ 10 phút ngày 19/9/2022 giữa Cơ quan Công an huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu với Chi cục thi hành án dân sự huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo Khoàng Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng điểm đ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Khoàng Thị S.
4. Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Nậm Nhùn; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Công an huyện Nậm Nhùn; - Thi hành án dân sự huyện Nậm Nhùn; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Bằng |