vanban.org

Bản án 49/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 18/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sư; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong sau giám định số 665 MT/PC09 chứa chất ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong số 665MT-A/…

Buộc bị cáo Lê Đức H phải nộp lại 130.000 (một trăm ba mươi nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phéo chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sư; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong sau giám định số 665 MT/PC09 chứa chất ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong số 665MT-A/…
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2022/HS-ST
Ngày 18-5-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Bích Hồng

Ông Nguyễn Văn Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Đức H, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1990 tại thành phố Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 06/130 đường L, phường L, quận L, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Ngh và bà Phạm Thị Thu H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ ngày 20/12/2021 chuyển tạm giam ngày 25/12/2021; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 00 phút ngày 20/12/2021, tại khu vực ngõ 201 đường Lạch Tray, phường Lạch Tray, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Công an quận Ngô Quyền phát hiện, bắt quả tang Lê Đức H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: Thu ở lòng bàn tay trái của H 01 gói nilon kích thước khoảng 02x02cm bên trong chứa tinh thể màu trắng (niêm phong mẫu số 01); 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE 6S màu hồng; 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA JUPITER màu đen đỏ đã qua sử dụng, BKS: 16P5-6539 và số tiền 20.000 đồng.

Khám xét khẩn cấp nhà của Lê Đức H tại địa chỉ Số 06/130 đường L, phường L, quận L, thành phố H, Cơ quan điều tra thu giữ trong hộp nhựa trên tủ giày tại phòng ngủ của H: 01 túi nilon kích thước khoảng 03x03cm, bên trong còn bám dính tinh thể màu trắng (niêm phong mẫu số 02); 01 tẩu thủy tinh, bên trong lõ tẩu còn bám dính tạp chất màu nâu đen (niêm phong mẫu số 03); 01 ống nhựa dài khoảng 07cm, cắt vát một đầu.

Kết luận giám định số 665/KLGĐ-MT ngày 24/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, xác định:

- Tinh thể màu trắng của mẫu số 01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,25 gam, là loại Methamphetamine.

- Tinh thể màu trắng bám dính bên trong vỏ gói nilon của mẫu số 02 gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, không đủ điều kiện xác định khối lượng ma túy bám dính trên.

- Tạp chất màu nâu đen bám dính bên trong tẩu thủy tinh của mẫu số 03 gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, không đủ điều kiện xác định khối lượng ma túy bám dính trên.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Đức H khai nhận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/12/2021, H điều khiển xe máy YAMAHA JUPITER màu đen đỏ, BKS: 16P5-6539 đi một mình ở khu vực ngõ 201 đường Lạch Tray, phường Lạch Tray, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng thì tình cờ gặp một người bạn xã hội mới quen biết (không biết căn cước, lai lịch). Người này đưa cho H 300.000 đồng và nhờ H đi mua hộ 200.000 đồng ma túy đá, còn 100.000 đồng cho H đổ xăng. H đồng ý cầm tiền rồi điều khiển xe máy của mình đi đến khu vực xã An Đồng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng. Mua được ma túy, H cầm trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi về ngõ 201 đường Lạch Tray để giao ma túy cho bạn thì bị Công an quận Ngô Quyền bắt quả tang.

Ngoài lần bị bắt quả tang này, Lê Đức H còn khai khoảng 11 giờ ngày 15/9/2021, H có gặp Vũ L (sinh năm 1987, nơi cư trú: Số 7/21/201 đường T, quận L, thành phố H - là bạn xã hội của H) ở cổng trường Trung học phổ thông Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Tại đây, L nhờ H đi mua hộ 300.000 đồng ma túy đá và trả công cho H 50.000 đồng. H đồng ý cầm tiền rồi đi đến khu vực bến xe miền Đông, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. Mua được ma túy, H cất giấu trong người và mang về đưa cho L.

Đối với số tiền 100.000 đồng có được từ việc mua ma túy hộ bạn ở khu vực ngõ 201 đường Lạch Tray, trên đường về H đã chi tiêu hết 80.000 đồng, còn lại 20.000 đồng. Số tiền 50.000 đồng H hưởng lợi từ lần mua ma túy hộ Vũ L, H đã chi tiêu cá nhân hết. Đối với 01 chiếc điện thoại IPHONE 6S màu hồng của H, Cơ quan điều tra không phát hiện có dữ liệu nào liên quan đến việc mua bán ma túy. Đối với 01 chiếc xe máy YAMAHA JUPITER màu đen đỏ, BKS: 16P5-6539, H khai chiếc xe này là do cách đây khoảng một năm H mua của một người đàn ông không quen biết với giá 6.000.000 đồng tại khu vực đường Văn Cao. Khi mua bán xe có đầy đủ giấy tờ xe nhưng do quá trình sử dụng H đã làm thất lạc. Xác minh tại Phòng Cảnh sát giao thông – Công an thành phố Hải Phòng xác định chiếc xe trên có chủ sở hữu là ông Đào Văn H (sinh năm 1965, nơi cư trú: Số 2/28 đường Đ, tổ 36 phường N, quận L, thành phố H). Ông H khai đã bán chiếc xe trên đã lâu cùng toàn bộ giấy tờ xe hợp pháp, xe không phải tài sản bị trộm cắp. Đối với những vật chứng thu giữ tại nhà H là của H, do H mua về từ trước để thỉnh thoảng sử dụng ma túy đá.

Tại Cơ quan điều tra, Vũ L khai nhận nội dung phù hợp với lời khai của Lê Đức H, ngoài ra L khai nhận số ma túy nhờ H mua ngày 15/9/2021, L đã sử dụng một mình hết.

Tại Bản Cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 22/4/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Lê Đức H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Lê Đức H khai nhận toàn bộ nội dung vụ án như cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tại phiên toà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Đức H và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Đức H với mức án từ 08 năm tù đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; không đề nghị hình phạt bổ sung do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định; căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong sau giám định số 665 MT/PC09 chứa chất ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong số 665MT-A/PC09 chứa 01 vỏ gói nilon của mẫu số 02 và 01 tẩu thủy tinh của mẫu số 03 sau khi xử lý mẫu giám định; 01 ống nhựa dài khoảng 7 cm, cắt vát 1 đầu; tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA JUPITER màu đen đỏ đã qua sử dụng, BKS: 16P5-6539 là phương tiện bị cáo phạm tội và số tiền 20.000 đồng theo biên lai số 0003773; trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại IPHONE 6S màu hồng đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; buộc bị cáo phải nộp lại 130.000 đồng là số tiền bị cáo thu lời bất chính (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền).

Về án phí: Bị cáo Lê Đức H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Sau khi đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, bị cáo đều thành khẩn khai nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở lại xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

- Về tội danh

Lời khai của bị cáo Lê Đức H tại phiên toà phù hợp với nội dung vụ án nêu trên thể hiện: Khoảng 11 giờ ngày 15/9/2021, tại khu vực trước cổng trường Trung học phổ thông Trần Nguyên Hãn, Lê Đức H đã có hành vi mua hộ ma túy cho Vũ L, hưởng lợi số tiền 50.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ ngày 20/12/2021, tại khu vực ngõ 201 đường Lạch Tray, phường Lạch Tray, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, H tiếp tục mua hộ bạn 0,25 gam ma túy Methamphetamine, hưởng lợi số tiền 100.000 đồng. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Đình H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và phạm tội 02 lần theo tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là đúng theo quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về trao đổi các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

- Về nhân thân

Bị cáo Lê Đình H mặc dù chưa có tiền án, tiền sự nhưng phạm tội rất nghiêm trọng. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian đủ để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo. Song cũng xét tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo Lê Đức H có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và là căn cứ khi Hội đồng xét xử lượng hình đối với bị cáo. Do bị cáo không có thu nhập và công việc ổn định nên không cần thiết bắt bị cáo chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng:

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với 01 phong bì niêm phong sau giám định số 665 MT/PC09 chứa chất ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong số 665MT-A/PC09 chứa 01 vỏ gói nilon của mẫu số 02 và 01 tẩu thủy tinh của mẫu số 03 sau khi xử lý mẫu giám định; 01 ống nhựa dài khoảng 7 cm, cắt vát 1 đầu, xét vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA JUPITER màu đen đỏ đã qua sử dụng, BKS: 16P5-6539 là phương tiện bị cáo phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với số tiền 20.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003773 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ngô Quyền là tiền bị cáo thu lợi bất chính nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước; đối với 01 chiếc điện thoại IPHONE 6S màu hồng đã qua sử dụng của bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền).

Buộc bị cáo Lê Đức H phải nộp lại 130.000 đồng là số tiền bị cáo thu lời bất chính để sung quỹ nhà nươc.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Đức H 08 (tám) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời hạn tù tính từ ngày ngày 20/12/2021.

Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sư; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong sau giám định số 665 MT/PC09 chứa chất ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong số 665MT-A/PC09 chứa 01 vỏ gói nilon của mẫu số 02 và 01 tẩu thủy tinh của mẫu số 03 sau khi xử lý mẫu giám định; 01 ống nhựa dài khoảng 7 cm, cắt vát 1 đầu. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA JUPITER màu đen đỏ đã qua sử dụng, BKS: 16P5-6539 và số tiền 20.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003773 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ngô Quyền. Trả lại cho bị cáo Lê Đức H 01 chiếc điện thoại IPHONE 6S màu hồng đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền).

Buộc bị cáo Lê Đức H phải nộp lại 130.000 (một trăm ba mươi nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước.

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Đức H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ