vanban.org

Bản án 49/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 29/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

2/ Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 3/ Xử phạt: Bị cáo Lê Đình Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/01/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN MỸ
TỈNH HƢNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------------------------
Bản án số: 49/2022/HS-ST
Ngày 29/4/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƢNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đại ông Đặng Đức Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Tân Lập, huyện Yên Mỹ, Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ mở phiên tòa lưu động xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2022 đối với:

1. Bị cáo: Họ và tên: Lê Đình Đ, sinh ngày 29/10/1990. Tên gọi khác: không. Giới tính: Nam. Sinh trú quán: tổ dân phố L, phường Nh, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ trước khi phạm tội: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Con ông Lê Đình H, sinh năm 1967. Nghề nghiệp: Lao động tự do và bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1970. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2022, bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Đức: Bà Nguyễn Thị Trang - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hưng Yên.

2. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1970; địa chỉ: tổ dân phố L, phường Nh, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

3. Ngƣời làm chứng: Anh Trần Trọng T, sinh năm 1991; địa chỉ: thôn Ng, xã Tr, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 05/01/2022 bị cáo Lê Đình Đ mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 89F1- 43222 của bà Nh là mẹ đẻ, đi từ nhà đến khu vực xã Tr, huyện Y, tỉnh Hưng Yên mục đích gặp B là bạn để mua ma túy về sử dụng. Khoảng 10 giờ 30 phút Đ đi đến khu vực đường bê tông thôn Th, xã Tr, thì nhìn thấy B đang đứng ở đường giơ tay lên vẫy, Đ hiểu ý nên dừng xe lại chỗ B đang đứng. B nói với Đức “có sử dụng ma túy không, anh cho một gói”, do đang có nhu cầu sử dụng ma túy nên Đ đồng ý. B đưa cho Đ 01 gói ma túy được bọc bên ngoài bằng vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, rồi bỏ đi. Đ cầm gói ma túy rồi mở ra kiểm tra thì thấy bên trong có 01 gói giấy kẻ ôly chứa chất dạng cục bột màu trắng, Đ cầm gói ma túy rồi điều khiển xe mô tô đi tìm vị trí để sử dụng, khi đang đi thì bị lực lượng Công an xã Tr phát hiện, bắt quả tang thu giữ tại nền đất cạnh chân trống của xe mô tô biển số 89F1- 43222 vị trí Đ đang đứng 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, bên trong có 01 gói giấy kẻ ôly chứa chất dạng cục bột màu trắng kích thước (1,5x2,5)cm được niêm phong ký hiệu M1; Thu tại túi quần phía trước bên trái 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen bên trong có sim số 0386631404; thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 89F1- 43222. Cùng ngày Công an xã Tr bàn giao hồ sơ, đối tượng bị bắt cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mỹ giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 05/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mỹ đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Đình Đ ở tổ dân phố L, phường Nh, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.

Tại Bản kết luận giám định số 80/MT-PC09 ngày 08/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột, trong niêm phong ký hiệu M1 có tổng khối lượng 0,219g là ma túy, loại Heroine. Hoàn lại 0,204g ma úy mẫu vật sau giám định, giao cho Công an huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên quản lý.

Quá trình điều tra Lê Đình Đ khai nhận: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 89F1- 43222 Đức mượn của bà Nguyễn Thị Nh, bà Nh không biết Đ sử dụng việc xe để đi mua ma túy. Ngày 03/3/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mỹ đã trả lại bà Nh chiếc xe trên, bà Nh đã nhận lại tài sản không có yêu cầu đề nghị gì.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen bên trong có sim số 0386631404 là tài sản của Đ không sử dụng vào việc phạm tội; 01 mẫu hoàn lại sau giám định gồm 0,204g ma túy, loại Heroine là vật chứng của vụ án.

Đối với người đàn ông tên B theo Đ khai là người đã đưa ma túy cho Đ, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch, nên không có căn cứ để xử lý.

Bản cáo trạng số 41/CT-VKS-YM ngày 04/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo Lê Đình Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Đình Đ khai nhận: Bị cáo là người nghiện ma túy, mục đích bị cáo đến xã Trung Hòa để mua ma túy sử dụng, lý do B đưa ma túy cho bị cáo là do bị cáo và B đã nhiều lần cùng hút với nhau, bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá lời khai của bị cáo tại phiên tòa, tính chất mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Lê Đình Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đ từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2022; Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng, quyền kháng cáo.

Trợ giúp viên pháp lý đề nghị: Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, nên đề nghị HĐXX áp dụng hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng vắng mặt, bị cáo và Kiểm sát viên đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. HĐXX xét thấy, những người vắng mặt đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử vụ án, do vậy HĐXX căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

Hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mỹ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang tại bút lục 25 - 26, bản kết luận giám định bút lục 41, biên bản hỏi cung bị can từ bút lục 110 - 115, ngoài ra còn phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên HĐXX có đủ căn cứ kết luận: khoảng 10 giờ 35 phút ngày 05/01/2022, tại khu vực đường làng thôn Th, xã Tr, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, bị cáo Lê Đình Đ có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Kết luận giám định số 80/MT – PC09 ngày 08/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên xác định ma túy bị cáo Đ cất giữ là loại Heroine có khối lượng 0,219g. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng ma túy là trái pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện, nhằm thỏa mãn việc nghiện của bản thân, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện; hành vi của bị cáo còn gián tiếp thúc đẩy sự gia tăng của tội phạm ma túy trong xã hội, việc sử dụng ma túy gây tác hại rất lớn đến thể chất, ảnh hưởng đến giống lòi, gây mất trật tự trị an, việc sử dụng dụng ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, như trộm cắp, cướp của, giết người...các phương tiện thông tin đại chúng ở trung ương và địa phương thường xuyên đưa tin về tác hại của ma túy và các tội phạm bắt nguồn từ ma túy, nhưng một số bộ phận người dân trong đó có bị cáo đã không cảnh tỉnh để từ bỏ ma túy. Vì vậy, cần xét xử nghiêm minh, dành cho bị cáo một hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đây là bài học với bị cáo và là hồi chuông cảnh báo đến những ai đã đang sử dụng ma túy.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương, do vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không nguồn thu nhập ổn định, không có tài sản tích lũy, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp tƣ pháp:

Đối với phong bì hoàn mẫu vật sau giám định bên trong có 0,204g ma túy, loại Heroine là chất cấm lưu hành, tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, bên trong lắp sim số 0386631404 không liên quan đến hành vi phạm tội, nên hoàn trả bị cáo

Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

2/ Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

3/ Xử phạt: Bị cáo Lê Đình Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05/01/2022.

4/ Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

5/ Về biện pháp tƣ pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu cho tiêu hủy phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định (số 80/MT-PC09) bên trong có 0,204g ma túy, loại Heroine.

Hoàn trả bị cáo Lê Đình Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, bên trong lắp sim số 0386631404.

Đặc điểm, tình trạng chi tiết các vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 38/QĐ-VKS-YM ngày 04/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ và Biên bản bàn giao vật chứng giữa cơ quan điều tra Công an huyện Yên Mỹ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Yên Mỹ.

6/ Về án phí: Áp dụng điểm đ Điều 12 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Đình Đ.

7/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo Bộ luật tố tụng hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ