vanban.org

Bản án 49/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Tuyên án 17/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

TuY bố bị cáo Nguyễn Văn Y phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Y 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã L, huyện V, tỉnh Nam Định nhận được bản sao bản án và Quyết định thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Y phạm tội " vi phạm quy định an về tham gia giao thông đường bộ " - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (đ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2022/HS-ST
Ngày 17-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiển.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Bằng và ông Nguyễn Văn Thể.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Kiều Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiên - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Y, sinh năm 1993 tại Nam Định.

Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn Trình X, xã L, huyện V, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1970. Bị cáo có vợ là chị Nguyễn Thị Hồng N và 02 con, con lớn sinh năm 2017 và con nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 01-8-2022 đến nay. “Có mặt”.

- Bị hại: Ông Bùi Huy L, sinh năm 1952. (Đã chết)

- Người đại diện theo pháp luật của bị hại:

+ Bà Bùi Thị G, sinh năm 1956 (là vợ của bị hại).

+ Anh Bùi Huy C, sinh năm 1980. (là con trai của bị hại).

+ Anh Bùi Huy B, sinh năm 1984. (là con trai của bị hại).

Cùng có địa chỉ: Xóm C, thôn Á, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định.

Người đại diện theo ủy quyền của bà G và anh B là: Anh Bùi Huy C, sinh năm 1980. Địa chỉ: Xóm C, thôn Á, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định. “Có mặt”.

- Người làm chứng: Anh Bùi Văn G, sinh năm 1988. Địa chỉ: Xóm C, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định. “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 03-06-2022, Nguyễn Văn Y có giấy phép lái xe mô tô theo quy định điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS18B2 880.60 từ nhà ở thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Nam Định đi theo Quốc lộ 10 đến làm việc tại Công ty IDAELOCK thuộc khu công nghiệp H, thành phố N, tỉnh Nam Định. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, Y điều khiển xe mô tô trên đi đến đoạn Km 113+900, Quốc lộ 10 thuộc địa phận xã T, huyện V, tỉnh Nam Định. Tại đây mặt đường được trải nhựa áp phan phẳng rộng 11m. Ở giữa đường có vạch sơn màu vàng nét đứt chia đường thành hai chiều đi riêng biệt là chiều từ N đi N và ngược lại. Tại mỗi chiều đường có vạch sơn màu trắng nét liền chia chiều đường thành hai phần đường riêng biệt là phần đường dành cho xe thô sơ, người đi bộ rộng 2m và phần đường dành cho xe cơ giới rộng 3,5m. Lề phải hướng N đi N rộng 0,8m; ngoài lề phải là hàng rào tôn sóng và đường sắt Bắc - Nam. Lề trái hướng N đi N rộng 01m; ngoài lề trái là khu dân cư sinh sống và đường đi vào trường Cao đẳng công nghiệp N. Ngoài lề phải hướng N đi N có cắm biển báo hiệu nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên. Tại đây đoạn đường thẳng, tầm nhìn thoáng. Lúc này Y điều khiển xe mô tô đi ở phần đường dành cho xe cơ giới, chiều đường bên phải hướng N đi N, tốc độ phương tiện là 54,5 km/h (+-3,6km). Ở phía trước cùng chiều với hướng di chuyển của mình, cách khoảng 20 mét, Y quan sát thấy ông Bùi Huy L đang một mình điều khiển xe máy điện nhãn hiệu GIANT, màu sơn đỏ - đen, không có BKS đi ở phần đường dành cho xe thô sơ, người đi bộ. Thời điểm này mật độ phương tiện tham gia giao thông trên đường đông. Do không chú ý quan sát biển báo hiệu, không chấp hành biển báo hiệu đường bộ, Y đã không giảm tốc độ xe mô tô của mình, nên khi xảy ra tình huống ông L chuyển hướng xe máy điện sang bên trái đường mà không có tín hiệu báo hướng rẽ ở phía trước đầu xe mô tô của Y, Y chỉ kịp đạp phanh chân, bóp phanh tay, đánh lái sang trái để tránh. Tuy nhiên bánh trước xe mô tô do Y điều khiển đã va chạm với ốp nhựa bảo vệ bình ắc quy bên trái xe máy điện do ông L điều khiển dẫn tới xe mô tô, xe máy điện bị đổ, rê trượt trên đường về hướng N, Y và ông L ngã ra đường và bị thương được đưa đi bệnh viện cấp cứu, điều trị. Đến khoảng 09 giờ 45 phút cùng ngày thì ông L tử vong. Các phương tiện xe mô tô, xe máy điện bị hư hỏng.

- Về tài liệu, đồ vật, vật chứng đã thu giữ: 01 xe mô tô BKS 18B2 – 880.60, 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 320213382657 mang tên Nguyễn Văn Y; 01 Giấy biên nhận thế chấp xe mô tô BKS 18B2-880.60 và 01 xe máy điện không có biển số.

- Khám nghiệm hiện trường theo hướng N đi N:

+ Vết cày số 1: Vết cày không liên tục làm xước nhựa mặt đường, có chiều hướng N - N, từ giữa phần đường dành cho xe cơ giới ra tim đường, nằm hoàn toàn ở chiều đường bên phải hướng N - N. Vết có KT (9,7x0,2)m. Đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 3,4m. Cuối vết cày trùng với đầu mút gá để chân bên phải người điều khiển xe mô tô BKS 18B2-880.60 và cách mép đường chuẩn là 4,9m. Đo từ đầu vết cày số 1 đến đầu vết cày số 2 là 7,8m (đo theo chiều N - N). Đo từ đầu vết cày số 1 đến mép đường bên phải lối đi vào trường cao đẳng công nghiệp N (tính từ QL 10 đi vào) là 12,4m (đo theo chiều N - N).

+ Vết cày số 2: Vết cày không liên tục làm xước nhựa mặt đường có chiều hướng N - N, nằm hoàn toàn ở chiều đường bên phải hướng N - N. Vết có KT (4,3 x 0,02)m. Đầu vết cách mép đường chuân là 5,2m. Cuối vết cày trùng với giá để chân người điều khiển xe máy điện không BKS và cách mép đường chuẩn là 5,35m.

+ Xe mô tô BKS: 18B2-880.60, nhãn hiệu Yamaha Exciter, bị đổ sang bên phải xe, nằm ở chiều đường bên phải hướng N - N. Đầu xe quay hướng N, đuôi xe quay hướng N. Tâm bánh trước xe mô tô cách mép đường chuẩn là 4,95m. Tâm bánh sau xe mô tô cách mép đường chuẩn là 4,8m. Tâm bánh sau xe mô tô cách tâm bánh sau xe máy điện là 0,8m (đo theo chiều N - N).

+ Xe máy điện không gắn BKS bị đổ sang bên phải xe, đầu xe quay hướng N, đuôi xe quay hướng N. Tâm bánh trước xe máy điện cách mép đường chuẩn là 5,55m. Tâm bánh sau xe máy điện cách mép đường chuẩn là 5,2m.

- Khám nghiệm tử thi cho thấy:

+ Mở lồng ngực theo khoang liên sườn 7,8 đường nách trước bên trái, tụ máu dưới da cơ vùng lồng ngực trái kích thước (12x9) cm.

+ Gẫy cung trước xương sườn 3,4,5,6,7 bên trái.

+ Gẫy cung bên xương sườn 4,5,6,7,8 bên phải.

+ Khoang phổi hai bên chứa nhiều nước máu chảy ra.

+ Phổi trái xẹp.

+ Gẫy phức tạp 1/3 giữa cả hai xương cẳng chân trái.

+ Dập nát bó mạch 1/3 giữa cẳng chân trái.

- Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 771/GĐKTHS ngày 15-6-2022 của Phòng Kỹ Thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã kết luận: Nạn nhân Bùi Huy L chết do đa chấn thương, mất máu cấp. Cơ chế: do va đập và trà sát.

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về hóa pháp số 25 ngày 30-5-2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Ninh Bình kết luận mẫu máu của anh Nguyễn Văn Y có nồng độ cồn (Ethanol) trong máu C=13,1 mg/100ml máu.

- Tại cáo trạng số 46/CT-VKSVB ngày 05-10-2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Y về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn Y đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” của mình đúng như nội dung nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Y về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

- Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Y phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Y từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.

- Miễn khấu trừ 1 phần thu nhập cho bị cáo Nguyễn Văn Y.

- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Văn Y.

- Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra các bên đã tự nguyện thỏa thuận giải quyết xong với nhau về việc bồi thường, người đại diện theo ủy quyền của những người đại hợp pháp của người bị hại cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Tại những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; bản kết luận giám định pháp y tử thi của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; vật chứng của vụ án; lời khai của bị cáo, của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng, chứng kiến tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác là các chứng cứ chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo đều được thu thập hợp pháp, không mâu thuẫn với nhau và phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, nên Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 07 giờ sáng ngày 03-6-2022, Nguyễn Văn Y có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS18B2 880.60 đi đến đoạn Km 113+900, Quốc lộ 10 thuộc địa phận xã T, huyện V, tỉnh Nam Định, do không chú ý quan sát biển báo hiệu, không chấp hành báo hiệu đường bộ khi tham gia giao thông, Y đã không giảm tốc độ xe mô tô của mình đang điều khiển, do đó khi ông Bùi Huy L đi xe máy điện phía trước cùng chiều chuyển hướng sang bên trái đường mà không có tín hiệu báo hướng rẽ, Y đã để bánh trước xe mô tô do Y điều khiển va chạm với ốp nhựa bảo vệ bình ắc quy bên trái xe máy điện do ông L điều khiển. Hậu quả vụ tai nạn làm xe mô tô, xe máy điện bị đổ, Y và ông L ngã ra đường, bị thương, đến khoảng 09 giờ 45 phút cùng ngày thì ông L tử vong. Xe mô tô và xe máy điện bị hư hỏng. Hành vi của Nguyễn Văn Y đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 11 và Điều 12 của Luật giao thông đường bộ.

Đối chiếu hành vi của bị cáo và hậu quả xảy ra với những quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành thì thấy hành vi đó của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đối với hành vi của bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Xét hành vi của bị cáo đã xâm hại đến sự hoạt động bình thường của người và các phương tiện tham gia giao thông đường bộ và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn về giao thông đường bộ tại địa phương. Vì vậy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải buộc bị cáo chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của bản thân và cần phải áp dụng loại hình phạt cũng như mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng, đồng thời cũng là để răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Trước lần phạm tội này bị cáo chưa có vi phạm pháp luật gì, lần phạm tội này là lần đầu.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại đầy đủ cho gia đình người bị hại để khắc phục hậu quả; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; ngoài ra người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và hoàn cảnh của gia đình bị cáo có khó khăn được chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú xác nhận. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

. Xét về lỗi của bị hại khi tham gia giao thông: Trong vụ án này ông Bùi Huy L điều khiển xe máy điện rẽ trái sang đường nhưng không bật đèn xi nhan báo hiệu hướng rẽ trước khi sang đường vi phạm khoản 1 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Do đó ông L cũng có một phần lỗi trong vụ tai nạn giao thông này.

Về đường lối xử lý hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Do bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, có nhiều hơn hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo được, không gây nguy hiểm, không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn của xã hội. Do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi môi trường ngoài xã hội nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 36 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện nay đang phải nuôi con còn nhỏ đang tuổi ăn học nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và miễn khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Xét trong giai đoạn điều tra các bên đã tự nguyện thỏa thuận giải quyết xong với nhau về việc bồi thường thiệt hại và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của người bị hại cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT công an huyện V trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Y 01 xe mô tô BKS 18B2 – 880.60, 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 320213382657 mang tên Nguyễn Văn Y; 01 Giấy biên nhận thế chấp xe mô tô BKS 18B2-880.60 và trả lại cho gia đình bị hại 01 xe máy Điện không biển số là đúng quy định pháp luật. Bị cáo Nguyễn Văn Y và những người đại diện hợp pháp của bị hại đều không có ý kiến khiếu nại gì.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Y phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào Điều 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và hình phạt:

- TuY bố bị cáo Nguyễn Văn Y phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Y 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã L, huyện V, tỉnh Nam Định nhận được bản sao bản án và Quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Y cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Nam Định giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành án.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Y phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn Y và người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiện thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ