vanban.org

Bản án 49/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 21/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh.

Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận, người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền bồi thường 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 củ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN C
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2022/HS-ST
Ngày: 21-6-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN C, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đức Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

2. Ông Đinh Hữu Cải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2022/TLST-HS, ngày 24 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định Đưa vụ án ra xét xử số 47/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Minh T, sinh năm 1993 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ 3, ấp Tân C1, xã Tân H, huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: Ấp Tân T1, xã Tân H, huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H1, sinh năm 1960 và bà Đặng Thị X, sinh năm 1962; vợ: Phạm Thị Diệu T2, sinh năm 2000; con có 01 người sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính lần nào và chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự lần nào; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04-3-2022 đến ngày 04-6-2022; bị cáo tại ngoại có mặt.

- Bị hại: Ông Châu Văn T3, sinh năm 1968; nơi cư trú: Ấp Hội T4, xã Tân H2, huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh; đã chết.

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

+ Bà Châu Thị H3, sinh năm 1946; nơi cư trú: Ấp Bến C1, xã Ninh Đ, huyện Châu T5, tỉnh Tây Ninh (mẹ bị hại); vắng mặt.

+ Chị Châu Thị Kim C2, sinh năm 1993; nơi cư trú: Ấp Hội T4, xã Tân H2, huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh (con bị hại); vắng mặt.

+ Chị Châu Thị Kim T6, sinh năm 1995; nơi cư trú: Ấp Hội T4, xã Tân H2, huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh (con bị hại); vắng mặt.

+ Cháu Châu Thị Minh T7, sinh ngày 21-4-2006; nơi cư trú: Ấp Hội T4, xã Tân H2, huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh (con bị hại); vắng mặt.

+ Cháu Châu Hoàng L, sinh ngày 26-6-2013; nơi cư trú: Ấp Hội T4, xã Tân H2, huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh (con bị hại); vắng mặt.

Người giám hộ cho cháu Minh T7 và Hoàng L: Chị Châu Thị Kim C2, sinh năm 1993; nơi cư trú: Ấp Hội T4, xã Tân H2, huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị Diệu T2, sinh năm 2000; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ 3, ấp Tân C1, xã Tân H, huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh; tạm trú: Ấp Tân T, xã Tân H, huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 24-12-2021, Trần Minh T có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 70K1 - 690.09 lưu thông trên tuyến đường Tỉnh lộ TL 793, từ hướng xã Thạnh Đ1, huyện Tân C đi hướng Ngã ba Chàng Riệc, xã Tân L1, huyện Tân B. Khi đến khu vực ấp Hội T4, xã Tân H2, huyện Tân C, T điều khiển xe thiếu quan sát phía trước nên đụng vào xe mô tô biển số 70 - 670FB do ông Châu Văn T3 đang điều khiển cùng chiều phía trước. Tai nạn xảy ra, ông Tài bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố Hồ Chí Minh đến ngày 29-12-2021 tử vong.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh, Trần Minh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và tự nguyện bồi thường tiền cho đại diện người bị hại để khắc phục hậu quả do hành vi của mình gây ra.

Kết luận giám định pháp y về tử thi số 05/2022/TT ngày 10-01-2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Tây Ninh đối với nguyên nhân chết của Châu Văn T3: Chấn thương sọ não.

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Xe mô tô biển số 70K1 - 690.09 đã trả lại cho chị Phạm Thị Diệu T2 là chủ sở hữu hợp pháp và xe mô tô biển số 70 - 670FB đã trả lại cho chị Châu Thị Kim C2 là đại diện gia đình bị hại (chủ sở hữu hợp pháp).

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho đại diện gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng và gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh. Bản Cáo trạng số: 43/CT-VKSTC ngày 19 tháng 5 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Trần Minh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Minh T về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm a, Khoản 1 Điều 260; điểm b, s Khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Minh T từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh.

- Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận, người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền bồi thường 50.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bị cáo Trần Minh T và chị Phạm Thị Diệu T2 thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh và không tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Khoảng 23 giờ ngày 24-12-2021, Trần Minh T điều khiển xe mô tô biển số 70K1 - 690.09 lưu thông trên tuyến đường Tỉnh lộ TL 793, khi đến khu vực thuộc địa phận ấp Hội T4, xã Tân H2, huyện Tân C, T thiếu quan sát phía trước nên xe mô tô biển số 70K1 - 690.09 do T điều khiển đụng vào xe mô tô biển số 70 - 670FB do ông Châu Văn T3 đang điều khiển cùng chiều phía trước. Tai nạn xảy ra, làm ông T3 tử vong do chấn thương sọ não. Hành vi của Trần Minh T đã vi phạm tại Khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ làm chết người nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

Khi quyết đi ̣nh hinh pha ̣t cần xem xét các tinh tiết tăng nă ̣ng, giảm nhe ̣

̀

̀ trách nhiê ̣m hinh sự cho bi ̣ cáo.

̀

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự nguyện bồi thường thiệt hại; gia đình bị cáo là người có công với cách mạng; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Mặc dù, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiêm hình sự nhưng hiện nay tình hình tai nạn giao thông trên cả nước nói chung và địa phương nói riêng rất nghiêm trọng nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhưng thấp hơn khung hình phạt quy định và thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ điều kiện răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh.

Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận, người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền bồi thường 50.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, Khoản 1 Điều 260; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Minh T 06 (sáu) tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân C, tỉnh Tây Ninh.

3. Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận, người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền bồi thường 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Trần Minh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Minh T, chị Phạm Thị Diệu T2 được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ