vanban.org

Bản án 49/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 28/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Phan Văn Bình, Bùi Văn D, Võ Ngọc N, Nguyễn Văn H phạm tội “Đánh bạc”.

Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục các bị cáo Phan Văn B, Bùi Văn D, Võ Ngọc N, Nguyễn Văn H nhận được quyết định thi hành án và bản án. Phạt bổ sung các bị cáo Phan Văn B, Bùi Văn D, Võ Ngọc N, Nguyễn Văn H mỗi bị cáo số ti… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Phan Văn Bình, Bùi Văn D, Võ Ngọc N, Nguyễn Văn H phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG TRẠCH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 49/2022/HS-ST
Ngày: 28/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN N DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Huận và ông Hoàng Anh Huê

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thùy Linh- Thư ký Tòa án N dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát N dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Đàm Xuân Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án N dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2022/QĐXXST-HS ngày 17/9/2022, đối với các bị cáo:

1. Phan Văn B, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1989 tại xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: thôn V, xã Q, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T và bà Trần Thị M; có vợ Hồ Thị D và 03 con, lớn nhất 8 tuổi, nhỏ nhất 5 tuổi; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/7/2022 đến ngày 24/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Bùi Văn D, sinh ngày 02 tháng 10 năm 1987 tại xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H và bà Phạm Thị N; có vợ là Nguyễn Thị D và 03 con: lớn nhất 09 tuổi, nhỏ nhất 02 tuổi; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 13/5/2016 bị Công an huyện Quảng Trạch ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Phạt tiền số tiền 6.000.000 đồng về hành vi “Khai thác trái phép khoáng sản”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/7/2022 đến ngày 24/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Võ Ngọc N, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1969 tại xã Q, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: thôn Tú Loan 2, xã Q, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Ngọc Q và bà Võ Thị K; có vợ là Bùi Thị T và 02 con: lớn nhất 32 tuổi, nhỏ nhất 29 tuổi; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 25/7/2022 bị Công an huyện Quảng Trạch ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Phạt tiền số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, Ngày 08/5/2016 bị Công an huyện Quảng Trạch ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Phạt tiền số tiền 3.000.000 đồng về hành vi “Khai thác trái phép khoáng sản”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/7/2022 đến ngày 24/7/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễn Văn H, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1982 tại xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con Nguyễn Ngọc Q và bà Đặng Thị X; có vợ là Biền Thị L và 02 con: lớn nhất 15 tuổi, nhỏ nhất 13 tuổi; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 05/11/2007 bị Công an huyện Quảng Trạch ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Phạt tiền số tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Vi phạm quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ”; Ngày 10/12/2008 bị Công an huyện Quảng Trạch ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Phạt tiền số tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”; Ngày 03/9/2015 bị Công an huyện Quảng Trạch ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Phạt tiền số tiền 4.000.000 đồng về hành vi “Khai thác trái phép khoáng sản”; Ngày 29/6/2019 bị Công an huyện Quảng Trạch ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Phạt tiền số tiền 7.500.000 đồng về hành vi “Khai thác trái phép khoáng sản”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/7/2022 đến ngày 24/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người làm chứng:

- Anh Nguyễn Hữu L, sinh năm 1981. Địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt

- Anh Trần Văn H, sinh năm 1982. Địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt

- Anh Phan Văn M, sinh năm 1991. Địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt

- Anh Ngô Văn T, sinh năm 1988. Địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 21/7/2022, Phan Văn B, Bùi Văn D, Võ Ngọc N đến sân bóng đá mini của Nguyễn Văn H để chơi. Quá trình ngồi uống nước với nhau, B rủ D, N và H “Anh em chơi tý cho vui, xâu xia thì kiếm con gà”, hiểu ý B là rủ đánh bạc thắng thua bằng tiền nên D, N, H đều đồng ý. Sau đó B đi vào trong quầy phục vụ sân bóng lấy một chiếc chiếu nhựa ra trải giữa nền phòng ngoài của quán rồi lấy 2 bộ bài tú lơ khơ màu đỏ có sẵn trong quán ra và cả nhóm bắt đầu đánh bạc. Trước khi tham gia đánh bạc D mượn H số tiền 5.000.000 đồng để đánh bạc. Khi vào đánh bạc các bị cáo ngồi theo chiều kim đồng hồ: B – D – H – N. Quá trình tham gia đánh bạc B mang theo số tiền 3.000.000 đồng, D sử dụng số tiền 5.000.000 đồng; N mang theo số tiền 1.000.000 đồng để trên chiếu 4.000.000 đồng. Các bị cáo tham gia đánh bạc bằng hình thức tiến lên miền Nam. Các bị cáo đánh đến lúc 17 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Đội Cảnh sát Điều tra-Công an huyện Quảng Trạch phối hợp với Công an xã Q bắt quả tang về hành vi đánh bạc, trong quá trình đó Nguyễn Văn H lợi dụng sơ hở bỏ chạy. Tại hiện trường Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Trạch thu giữ trên chiếu bạc số tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số tiền 10.500.000 đồng, tại vị trí ngồi của Nguyễn Văn H có 01 mũ cối xanh bên trong có số tiền là 2.500.000 đồng bên cạnh có 02 chiếc điện thoại di động. Đến 07 giờ 30 phút ngày 22/7/2022 H nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết mình không thể che giấu hành vi phạm tội nên H đã tới đầu thú tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Trạch.

Về vật chứng và xử lý vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Trạch đã thu giữ:

- Thu giữ và trả lại cho Bùi Văn D 01 chiếc điện thoại Realme, loại C15 màu xanh không liên quan đến hành vi phạm tội;

- Thu giữ và trả lại cho Võ Ngọc N 01 chiếc điện thoại Oppo, loại A55, màu xanh, không liên quan đến hành vi phạm tội

- Thu giữ và trả lại cho Phan Văn B 01 chiếc điện thoại Samsung, loại Galaxy J6 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh dương, không liên quan đến hành vi phạm tội

- Thu giữ và trả lại cho Nguyễn Văn H 01 chiếc điện thoại Oppo, loại Reno 5 màu đen và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, không liên quan đến hành vi phạm tội

- Thu giữ số tiền 13.000.000 đồng (Mười ba triệu) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam

- 01 chiếc chiếu nhựa, có nhiều hoa văn màu sắc

- 104 quân bài Tú lơ khơ màu đỏ;

- 01 mũ cối màu xanh, đã qua sử dụng

Tại Cáo trạng số 34/CT-VKSQT ngày 12 tháng 9 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch đã truy tố các bị cáo Phan Văn B, Bùi Văn D, Võ Ngọc N, Nguyễn Văn H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và N thân mỗi bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Nguyễn Văn H, xử phạt bị cáo Phan Văn B, Bùi Văn D, Võ Ngọc N, Nguyễn Văn H mỗi bị cáo từ 18 - 24 tháng cải tạo không giam giữ.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền đã thu giữ 13.000.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chiếu nhựa, có nhiều hoa văn màu sắc; 104 quân bài Tú lơ khơ màu đỏ; 01 mũ cối màu xanh, đã qua sử dụng

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và nhất trí với tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch đã truy tố, kết tội các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, xem xét tạo điều kiện cho các bị cáo được cải tạo, rèn luyện tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, ngườ i làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo Phan Văn B, Bùi Văn D, Võ Ngọc N, Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi pha ̣m tô ̣i đánh bạc mà các bị cáo đã thực hiện từ khoảng 10 giờ ngày 21/7/2022 đến 17 giờ 30 phút ngày 21/7/2022 tại thôn P, xã Q, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Các bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài “Tiến lên miền nam” thì bị phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền mà các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 13.000.000 đồng nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Xét thấy, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra hoàn toàn phù hợp và thống nhất, thống nhất với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được tại hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ. Do vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Phan Văn Bình, Bùi Văn D, Võ Ngọc N, Nguyễn Văn H phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, N thân cùng các tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Tính chất của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, gây nguy hại cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm trật tự an toàn và nếp sống văn minh của xã hội. Các bị cáo là những người đã có gia đình đáng lẽ phải nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép sẽ gây ra nhiều tác hại và hệ lụy khác cho xã hội cũng như cho gia đình và chính bản thân các bị cáo nhưng vì coi thường pháp luật nên đã dẫn đến việc thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần có một hình phạt nghiêm đối với các bị cáo để nhằm có tác dụng giáo dục ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật cho các bị cáo và đấu tranh ngăn chặn triệt để tệ nạn cờ bạc trong toàn xã hội.

Vụ án có nhiều bị cáo tham gia thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên tính chất đồng phạm chỉ ở mức độ giản đơn, giữa các bị cáo không có sự tổ chức, cấu kết chặt chẽ hay phân công vai trò, vị trí cụ thể trước khi phạm tội mà việc phạm tội nảy sinh và được thực hiện khi bị cáo B đề xướng thì các bị cáo Bùi Văn D, Võ Ngọc N, Nguyễn Văn H cùng đồng thuận thống nhất ý chí thực hiện.

Đối với các bị cáo Bùi Văn D, Võ Ngọc N, Nguyễn Văn H là những người có nhân thân xấu. Bị cáo Bùi Văn D: Ngày 13/5/2016 bị Công an huyện Quảng Trạch ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Phạt tiền số tiền 6.000.000 đồng về hành vi “Khai thác trái phép khoáng sản”. Bị cáo Võ Ngọc N: Ngày 25/7/2022 bị Công an huyện Quảng Trạch ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Phạt tiền số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, Ngày 08/5/2016 bị Công an huyện Quảng Trạch ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Phạt tiền số tiền 3.000.000 đồng về hành vi “Khai thác trái phép khoáng sản”. Bị cáo Nguyễn Văn H: Ngày 03/9/2015 bị Công an huyện Quảng Trạch ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Phạt tiền số tiền 4.000.000 đồng về hành vi “Khai thác trái phép khoáng sản”; Ngày 29/6/2019 bị Công an huyện Quảng Trạch ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Phạt tiền số tiền 7.500.000 đồng về hành vi “Khai thác trái phép khoáng sản”. Các bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà lại tiếp tục phạm tội trong vụ án này.

Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử đã xem xét cho các bị cáo: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Phan Văn Bình có quá trình N thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội bị cáo H đã đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo tùy theo điều kiện mà các bị cáo được hưởng.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy các bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội mà áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình và cũng để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Ngoài hình phạt chính cần áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Phan Văn B, Bùi Văn D, Võ Ngọc N, Nguyễn Văn H mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét các bị cáo công việc không ổn định, thu nhập thấp, có đơn trình bày hoàn cảnh kinh tế khó khăn, có chính quyền địa phương xác nhận vì vậy miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Phan Văn B, Bùi Văn D, Võ Ngọc N, Nguyễn Văn H là phù hợp.

Các bị cáo Phan Văn B, Bùi Văn D, Võ Ngọc N, Nguyễn Văn H có thời gian bị bắt tạm giữ sẽ được quy đổi, khấu trừ vào thời gian các bị cáo phải chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với số tiền 13.000.000 đồng đã thu giữ, xác định đây là số tiền mà các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc, sử dụng vào việc phạm tội nên áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với các vật chứng là 104 quân bài Tú lơ khơ màu đỏ, 01 chiếc chiếu nhựa; 01 mũ cối màu xanh là các công cụ mà các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc hiện không còn giá trị sử dụng nên cần áp dụng các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Các bị cáo Phan Văn B, Bùi Văn D, Võ Ngọc N, Nguyễn Văn H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Phan Văn Bình, Bùi Văn D, Võ Ngọc N, Nguyễn Văn H phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 36; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn B, Bùi Văn D, Võ Ngọc N mỗi bị cáo 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 03 ngày bị bắt tạm giữ từ ngày 21/7/2022 đến ngày 24/7/2022, được quy đổi thành 09 ngày cải tạo không giam giữ. Hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại của mỗi bị cáo là 17 tháng 21 ngày (mười bảy tháng hai mươi mốt ngày).

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ được trừ 02 ngày bị bắt tạm giữ từ ngày 22/7/2022 đến ngày 24/7/2022, được quy đổi thành 06 ngày cải tạo không giam giữ. Hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại của bị cáo là 17 tháng 24 ngày (mười bảy tháng hai mươi bốn ngày).

Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục các bị cáo Phan Văn B, Bùi Văn D, Võ Ngọc N, Nguyễn Văn H nhận được quyết định thi hành án và bản án.

Phạt bổ sung các bị cáo Phan Văn B, Bùi Văn D, Võ Ngọc N, Nguyễn Văn H mỗi bị cáo số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Thời gian chấp hành hình phạt bổ sung kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian chấp hành hình phạt cho các bị cáo Phan Văn Bình, Bùi Văn D, Võ Ngọc N, Nguyễn Văn H.

Giao bị cáo Phan Văn Bình và Nguyễn Văn H cho Ủy ban N dân xã Q, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Bùi Văn D, Võ Ngọc N cho Ủy ban N dân xã Q, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Về áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 13.000.000 đồng, tịch thu tiêu hủy 104 quân bài Tú lơ khơ màu đỏ, 01 chiếc chiếu nhựa; 01 mũ cối màu xanh.

Vật chứng trên có đặc điểm được mô tả cụ thể tại Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Quảng Trạch với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch ngày 12/9/2022.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Phan Văn B, Bùi Văn D, Võ Ngọc N, Nguyễn Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/9/2022).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh Quảng Bình;

- VKSND tỉnh Quảng Bình;

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;

- Công an huyện Quảng Trạch;

(Đã ký)

- VKSND huyện Quảng Trạch;

- THADS huyện Quảng Trạch;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Lan Phương THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ