- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số 49 ngày 21.4.2022 Lò Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 24…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo LVS, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2022/HS-ST Ngày 21-4-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tòng Văn Máy và bà Nguyễn Thi ̣ Hương.
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Ngo ̣c Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện ML, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2022/ QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: LVS, sinh ngày 05/6/1985, tại CS, MS, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản TC, xa CS, huyê ̣̃
n MS, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao đô ̣ng tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Lò Văn L, sinh năm 1961 và con bà Lò Thi ̣ T, sinh năm 1962; Có vợ là Lườ ng Thi ̣ H, sinh năm 1988 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2021; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 20/12/2021 Công an huyê ̣n ML phối hợp vớ i Công an xa CH phát hiện, bẵ
́t quả tang LVS đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy ta ̣i khu vực bản MP, xa CH, huyê ̣̃
n ML.
Vật chứng thu giữ: 01 (mô ̣t) gói nilon màu hồng, bên trong đựng cục bột màu trắng nghi là Heroine.
Ngày 21/12/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ML và Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tiến hành bóc mở niêm phong và cân tịnh vật chứng thu giữ khi bắt quả tang. Kết quả: 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứ a cu ̣c bô ̣t màu trắng có khối lượng là 0,98 gam, lấy hết làm mẫu giám định ký hiệu S. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ML ra quyết định trưng cầu giám định số 05. Tại Kết luận giám định số 89 ngày 23/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã kết luận: Mẫu gửi giám định S là chất ma túy; loại Heroine; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,98 gam loại Heroine. Đồng thờ i hoàn la ̣i 0,58 gam Heroine do không sử du ̣ng đến trong quá trinh giám đi ̣nh. ̀
Quá trình điều tra và tại phiên toà, LVS khai nhận: Ngày 19/12/2021 S đi bô ̣ từ nhà ở bản MP, xa CH, huyê ̣̃
n ML lên khu vực nhà máy thủy điê ̣n CC1 thuô ̣c xa CH, huyê ̣̃
n ML để tim mua ma túy về sử du ̣ng. Trên đườ ng đi S gă ̣p
̀ mô ̣t ngườ i đàn ông dân tô ̣c Mông không biết tên tuổi, đi ̣a chi, S đa hõ ̉i và mua
̉ được của ngườ i đàn ông này 01 gói Heroine vớ i số tiền 500.000 đồng. Sau khi mua được ma tú y S cất vào túi quần đang mă ̣c trên ngườ i rồi đi bô ̣ về nhà. Đến khoảng 10 giờ ngày 20/12/2021 khi S đang đi bô ̣ mô ̣t minh mang theo Heroine
̀ để sử du ̣ng ta ̣i khu vực bản MP, xa CH thĩ
bi ̣ tổ công tác Công an huyê ̣n ML
̀
phát hiê ̣n bắt quả tang.
Đối vớ i người đàn ông theo lờ i khai của LVS đa bã ́n ma túy cho LVS vào ngày 19/12/2021, S không biết tên, tuổi, địa chỉ, viê ̣c mua bán không ai biết hoă ̣c chứ ng kiến. Ngoài lờ i khai của S Cơ quan điều tra Công an huyện Mường La không thu thâ ̣p được tài liê ̣u chứ ng cứ khác nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 23/CT-VKS-ML ngày 25/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố bị cáo LVS về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo LVS đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo LVS phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt LVS từ 19 tháng đến 25 tháng tù giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có tài sản.
Đối với vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an tinh Sơn La được niêm phong dán kín,̉ (đựng 01 vỏ phong bi niêm phong gử i giám đi ̣nh đa bõ ́c mở và chất bô ̣t màu
̀ trắng ký hiê ̣u S không sử du ̣ng đến trong quá trinh giám đi ̣nh, có khối lượng
̀ 0,58 gam); 01 phong bì công văn của Công an tỉnh Sơn La được niêm phong dán kín, (đựng 01 vỏ phong bi niêm phong vâ ̣t chứ ng ban đầu + 01 mảnh nilon màu
̀ hồng).
Về án phi: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
́ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Đề nghi ̣ buô ̣c bi ̣ cáo LVS phải chi ̣u tiền án phí hinh sự sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t;
̀
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo LVS không có ý kiến tranh luâ ̣n.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin miễn nô ̣p tiền án phi.
́
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ML; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ML; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo LVS thừa nhận: Ngày 20/12/2021 LVS đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,98 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện ML phát hiện bắt quả tang.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, thông báo kết quả giám định vật chứng của vụ án, lời khai của người chứng kiến.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo LVS đã thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình làm là nguy hiểm cho xã hội và bản thân, nhưng do nghiện chất ma túy nên bị cáo đã thực hiện tội phạm. Hành vi cất giấu, cất giữ trái phép 0,98 gam Heroine của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là thuộc trường hợp nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương.
Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Toà cần xem xét chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo.
Về hình phạt
Về hình phạt chính: Tòa cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo nghiện chất ma túy, thu nhập không ổn định, tài sản không có gì giá trị lớn, bị cáo không có khả năng thi hành, Toà cần xem xét không áp dụng đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho bị cáo, cơ quan chức năng không có cơ sở chứng minh, xử lý.
Về vật chứng của vụ án:
01 phong bì công văn của Công an tỉnh Sơn La được niêm phong dán kín, (đựng 01 vỏ phong bi niêm phong gử i giám đi ̣nh đa bõ ́c mở và chất bô ̣t màu
̀ trắng ký hiê ̣u S không sử du ̣ng đến trong quá trinh giám đi ̣nh, có khối lượng
̀ 0,58 gam); 01 phong bì công văn của Công an tỉnh Sơn La được niêm phong dán kín, (đựng 01 vỏ phong bi niêm phong vâ ̣t chứ ng ban đầu + 01 mảnh nilon màu
̀ hồng). Là của bị cáo dùng thực hiện tội phạm, không có giá tri ̣ sử du ̣ng, cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin miễn nộp tiền án phí. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Tuyên bố: bị cáo LVS, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo LVS 26 (Hai mươi sáu) tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, ta ̣m giam (ngày 20/12/2021).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an tinh Sơn Lả được niêm phong dán kín, (đựng 01 vỏ phong bi niêm phong gử i giám đi ̣nh đa ̃
̀ bóc mở và chất bô ̣t màu trắng ký hiê ̣u S không sử du ̣ng đến trong quá trinh giám
̀ đi ̣nh, có khối lượng 0,58 gam); 01 phong bì công văn của Công an tỉnh Sơn La được niêm phong dán kín, (đựng 01 vỏ phong bi niêm phong vâ ̣t chứ ng ban đầu
̀ + 01 mảnh nilon màu hồng).
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2022 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện ML và Chi cục Thi hành án dân sự huyện ML).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Miễn nộp tiền án phí sơ thẩm cho bị cáo LVS.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 21/4/2022.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện ML (2); - Công an huyện ML; - Bị cáo; - Trại giam CA tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Chi cục THADS huyện ML; - THA hình sự; - Lưu: Hồ sơ, án văn. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên) | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Lê Thị Thu Hà (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |