- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Văn T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| –––––––––––– Bản án số: 49/2022/HS-ST Ngày: 01-12-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Khiêm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Chí Hoàng
Ông Ngô Quang Hậu
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Anh Lợi - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/ 2022/TLST-HS ngày 04/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Tạ Văn T sinh ngày 12 tháng 4 năm 1983; nơi cư trú: Thôn T , xã Ph , huyện Y, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn B, sinh năm 1958 và bà Trịnh Thị Q, sinh năm 1959; bị cáo có vợ Bùi Thị H, sinh năm 1984, con: 02 con,lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án: Không; tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 13/07/2022 đến ngày 22/7/2022 được tại ngoại ( có mặt tại phiên tòa).
Bị hại:
1.Anh Đinh Văn T, sinh năm 1984, nơi cư trú: Xóm Đầm Ph, xã Mường Ch, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình ( đã chết).
Đại diện bị hại chị Đinh Thị Ng, sinh năm 1982, nơi cư trú: Xóm Đ , xã M, huyện Đ , tỉnh Hòa Bình ( vắng mặt).
2. Anh Bùi Văn Q, sinh năm 1976, nơi cư trú: Xóm Đầm Ph, xã Mường Ch, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình ( đã chết).
Đại diện bị hại anh Bùi Văn Th, sinh năm 1993, nơi cư trú: Xóm Đầm Ph, xã M, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình ( vắng mặt).
Người làm chứng: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1984, nơi cư trú: Xóm T, xã P, huyện Y, tỉnh Hòa Bình ( có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 8 giờ 15 phút ngày 13/7/2022 Tạ Văn T, điều khiển xe ô tô BKS: 28C- 066.90 ngồi bên cạnh ghế phụ là Bùi Thị H (là vợ Tạ Văn T) đi từ công ty bao bì Đông Đô thuộc thôn Đồng Sương, Liên Sơn, Lương Sơn, Hoà Bình theo đường Hồ Chí Minh đi hướng Xuân Mai - Chợ Bến để đi về nhà tại Phú Lai, Yên Thủy, Hòa Bình. Đến khoảng 8 giờ 30 phút cùng ngày Tạ Văn T điều khiển xe ô tô BKS: 28C- 066.90 đi đến đoạn Km 442+600 đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận thôn Om Làng, Cao Dương, Lương Sơn, Hòa Bình và đi hướng Xuân Mai - Chợ Bến đang vượt xe ô tô con đi phía trước cùng chiều dẫn đến chiếm làn đường 1,10 m (là làn đường dành cho xe đi ngược chiều). Cùng lúc này xe mô tô BKS: 28D1 - 083.13 do anh Đinh Văn T, điều khiển đi hướng Chợ Bến - Xuân Mai đi theo đúng làn đường chở ngồi phía sau xe là anh Bùi Văn Q, xe ô tô do Tạ Văn T điều khiển đã va chạm vào xe mô tô do Đinh Văn T điều khiển. Hậu quả: anh Đinh Văn T chết tại chỗ, anh Bùi Văn Q chết trên đường đi cấp cứu, hư hỏng xe ô tô và xe mô tô. Sau khi xảy ra sự việc Tạ Văn T đến cơ quan Công an huyện Lương Sơn đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Khám nghiệm hiện trường.
- Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại KM 442 + 600 đường Hồ Chí Minh xảy ra trên đoạn đường thẳng, phẳng, tầm nhìn thoáng, đường áp dụng cho hai chiều xe chạy, có vạch kẻ đứt màu vàng giữa đường chia đôi hai phần đường, lòng đường rộng 11 m.
- Vị trí (1) nạn nhân Đinh Văn Tiến chết tại hiện trường, nạn nhân nằm vuông góc mặt đường, đo đầu nạn nhân vào mép đường 2m80. Đo chân trái nạn nhân vào mép đường 1m70.
- Vị trí (2) nạn nhân Bùi Văn Quế. Đo vị trí nạn nhân vào mép đường là 0m30. đo tới vị trí (1) là 3m55.
- Vị trí (3) xe mô tô BKS: 28D1 - 083.13 nằm vuông góc với mặt đường đo trục trước vào mép đường 0m28, đo trục sau vào mép đường là 0m75, đo trục sau tới đầu nạn nhân (1) là 4m90.
- Vị trí (4) xe ô tô BKS: 28C – 066.90 đỗ song song với mặt đường; Đầu xe hướng chợ Bến đuôi xe hướng Xuân Mai, đo trục trước vào mép đường 6m40; Đo trục sau vào mép đường 6m25, đo trục sau tới trục trước xe mô tô 84m20.
- Vị trí (5) vết trượt cơ thể nạn nhân (1) hướng Chợ Bến đi Xuân Mai có diện 7m55 x 0m50, đo đầu vết vào mép đường 3m95, cuối vết trùng với vị trí nạn nhân.
- Vị trí (6) vết trượt cơ thể nạn nhân (2) hướng Chợ Bến đi Xuân Mai có diện 9m30 x 0m55 đo đầu vết vào mép đường 3m55, cuối vết trùng với vị trí nạn nhân, đo đầu vết tới đầu vết (5) 0m45.
- Vị trí (7) vết cà để chân xe mô tô hướng Chợ Bến đi Xuân Mai có diện 9m30 x 0m01 đo đầu vết vào mép đường 2m90, cuối vết trùng với bàn để chân trước xe mô tô, đo đầu vết tới đầu vết (6) 3m00.
- Vị trí (8) vết cà để tay nắm lái xe mô tô có hướng Chợ Bến – Xuân Mai có diện 7m60 x 0m02, đo đầu vết vào mép đường 2m30, cuối vết trùng tay nắm lái. Đo đầu vết tới đầu vết (7) 2m10.
- Vị trí (9) khu vực phát hiện tổ chức cơ thể người hướng Xuân Mai đi Chợ Bến có diện 14m50 x 2m40; đo tâm khu vực vào mép đường 3m30.
- Vị trí (10) dép trái nạn nhân có diện 0m27 x 0m10. Đo tâm dép vào mép đường 2m60.
- Vị trí (11) vị trí mũ bảo hộ lao động có diện 0m25 x 0m20. Đo tâm mũ vào mép đường 4m70.
- Vị trí (12) dép phải nạn nhân có diện 0m27 x 0m10. Đo tâm dép vào mép đường 3m95. Đo tâm dép tới vị trí (11) 2m50.
- Vị trí (13) vị trí mũ bảo hộ lao động có diện 0m25 x 0m20 đo tâm mũ vào mép đường 2m40. Đo tâm mũ tới vị trí (12) 3m.
- Căn cứ vào chiều hướng chuyển động phương tiện xe ô tô BKS: 28C - 066.90 đi hướng Xuân Mai - Chợ Bến và xe mô tô BKS: 28D1 - 083.13 đi ngược chiều. Căn cứ dấu vết để lại trên hiện trường, căn cứ dấu vết để lại trên xe ô tô 28C - 06690, xe mô tô BKS 28D1 - 083.13 xác định: vị trí chắn bùn lốp trước bên trái xe ô tô 28C - 066.90 đâm vào tay nắm lái xe mô tô 28D1 - 083.13; Tương ứng xuống mặt đường xác định điểm A là điểm va chạm giữa hai phương tiện. Sau khi đâm hai nạn nhân đâm vào thùng xe và ngã ra đường tạo thành dấu vết (5) và (6). Xe mô tô 28D1
- 083.13 văng ra đường tạo thành dấu vết (7) và (8). Đo tâm A vào mép đường 4m40; đo tâm (A) ra tim đường 1m10; đo (A) tới đầu (5) 1m25; đo (A) tới tâm (9) 8m70; đo (A) tới (11) 3m20; đo (A) tới (1) 8m70; đo (A) tới trục trước xe mô tô 12m70; đo (A) tới trục sau xe ô tô 72m40.
- Cột mốc được lấy làm mốc. Đo tâm mốc tới (A) 22m10; đo tâm mốc tới (3) 14m80; đo tâm mốc tới (4) 90m70; đo tâm mốc tới (1) 15m10.
Ngoài các dấu vết trên không phát hiện dấu vết gì khác. Toàn bộ hiện trường vụ TNGT được đo về mép đường bên phải theo hướng Chợ Bến đi Xuân Mai được lấy làm chuẩn.
2. Khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông
* Xe ô tô BKS: 28C - 066.90; Nhãn hiệu DONGFENG; loại xe thùng KMP bạt; Màu sơn: xanh.
- Tại vị trí chắn bùn lốp trước bên trái bị cong gập hướng từ trước về sau, cách vị trí ban đầu 25cm trên chắn bùn có vết trượt xước kim loại, trượt sạch bụi đất diện 3cmx1cm. Điểm thấp nhất cách mặt đất 99cm.
- Tại vị trí đầu góc thùng xe sườn xe bên trái phía trước bị trượt sạch bụi bùn đất hướng từ trước về sau, trên đầu thùng xe, sườn xe có bám dính tạp chất, tổ chức cơ thể người (lông, tóc, thịt) diện 2m40 x 0,2m. Điểm thấp nhất cách mặt đất 1,05m.
- Tại vị trí chắn bùn lốp thứ 2 bên trái bị cong gập biến dạng:
+ Đầu chắn bùn bị trượt sạch bùn đất, bám dính tổ chức cơ thể người diện 0,2m x 3cm; điểm thấp nhất cách mặt đất 1,08m.
+ Tại vị trí đuôi chắn bùn có vết trượt sạch bụi đất, trượt mòn cao su hình vân lốp xe diện 26cm x 12cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 52cm.
- Tại vị trí khung sắt bảo vệ sườn xe bên trái có vết trượt sạch bụi đất, bám dính tổ chức cơ thể người diện 0,7m x 33cm; điểm thấp nhất cách mặt đất 47cm.
- Tại vị trí bình xăng xe mặt bên trái có bám dính chất dạng tổ chức cơ thể người diện 0,9m x 0,28m; điểm thấp nhất cách mặt đất 0,76m.
* Ngày 23/7/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện Lương Sơn, Hoà Bình ra Quyết định trưng cầu giám định số 105 trưng cầu: Tình trạng an toàn kỹ thuật (hệ thống phanh, hệ thống lái) xe ô tô BKS: 28D - 066.90 trước khi xảy ra tai nạn ngày 13/07/2022.
Tại bản kết luận giám định số 4982/KL-KTHS ngày 29/8/2022 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận xe ô tô biển kiểm soát 28C-066.90 hiện tại và tại thời điểm ngay trước khi xảy ra tai nạn:
- Hệ thống phanh còn tác dụng hãm các bánh xe nhưng không đảm bảo an toàn kỹ thuật do hệ số sai lệch lực phanh giữa hai bánh của trục I và của trục II lần lượt là 35% và 31%, vượt quá quy định.
- Hệ thống lái còn tác dụng đánh lái về hai phía nhưng không đảm bảo an toàn kỹ thuật do độ rơ vô lăng lái là 20/46, vượt quá quy định (độ rơ vô lăng không được vượt quá 1/5).
* Xe mô tô BKS: 28D1 - 083.13 ; nhãn hiệu: Honda, màu sơn: xanh đen, loại xe: Wave RSX.
- Nứt vỡ hai gương chiếu hậu hai bên, bung bật, nứt vỡ phần ốp nhựa bảo vệ đồng hồ công tơ mét diện 0,24m x 0,1m; điểm thấp nhất cách mặt đất 01m.
- Bung bật đèn chiếu sáng phía trước trên mặt đèn bị trượt xước nhựa diện 0,0m5 x 0,02m; điểm thấp nhất cách mặt đất 0,99m.
- Nứt vỡ cánh yếm bên trái trên cánh yếm có vết trượt sạch bùn đất diện 0,06m x 0,14m; điểm thấp nhất cách mặt đất 0,3m.
- Toàn bộ phần lốp trước bị cong gập hướng từ trước về sau cách vị trí ban đầu 0,06m.
- Cong gập bánh xe phía trước hướng từ ngoài vào trong diện 0,07m x 0,005m; điểm gần chân sau nhất cách chân van 0,22m.
- Tại vị trí đầu tay nắm lái bên phải bị trượt mòn kim loại diện 0,03m x 0,03m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,99m.
- Tại vị trí bàn để chân trước bên phải bị cong gập hướng từ trước về sau từ dưới lên trên, đầu để chân bị trượt mòn kim loại diện: 0,01m x 0,015m điểm thấp nhất cách mặt đất 0,3m.
- Tại vị trí lốc máy bên trái bị nứt vỡ kim loại diện 0,12m x 0,07m điểm thấp nahats cách mặt đất 0,27m.
- Cong gập toàn bộ phần để chân trước bên trái, cần đạp số hướng từ trước về sau.
- Ngoài những dấu vết trên không ghi nhận thêm dấu vết gì khác.
3. Khám nghiệm tử thi
Ngày 13/07/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện Lương Sơn, Hoà Bình ra Quyết định trưng cầu số 98 nội dung yêu cầu giám định: xác định nguyên nhân chết của Đinh Văn T.
- Tại bản kết luận giám định pháp y số 85/TT-CAT- PC09, ngày 19/07/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình chẩn đoán:
+ Nạn nhân bị chấn thương vùng: Đầu, mặt, mỏm vai, ngực, hạ sườn, tay, chân do tác động va đập với vật tày rắn gây nên các tổn thương. Vỡ sập xương hộp sọ, gãy xương đốt ngón chân và nhiều vết xây sát, xước, rách da, bầm tím, dập nát tổ chức cơ, xương trên cơ thể nạn nhân.
+ Kết luận: nạn nhân chết do chấn thương sọ não.
Ngày 13/07/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện Lương Sơn, Hoà Bình ra Quyết định trưng cầu số 99 nội dung yêu cầu giám định: xác định nguyên nhân chết của Bùi Văn Quế.
- Tại bản kết luận giám định pháp y số 86/TT- CAT- PC09, ngày 19/07/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình chẩn đoán:
+ Nạn nhân bị chấn thương vùng: Đầu, mỏm vai, bả vai, ngực, tay, chân do tác động va đập với vật tày rắn gây nên các tổn thương: Đứt động mạch chày, gãy xương sườn, xương cẳng tay, xương cẳng chân và nhiều vết xây sát, rách da, bầm tím, dập nát tổ chức cơ xương trên cơ thể nạn nhân.
+ Kết luận: Nạn nhân chết do sốc mất máu, suy tuần hoàn, suy hô hấp cấp.
Ngày 13/07/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện Lương Sơn, Hoà Bình ra Quyết định trưng cầu số 100 nội dung yêu cầu giám định: mẫu nghi máu tổ chức cơ thể người thu trên xe ô tô BKS: 28C - 066.90 có phải là máu người, mô cơ thể người không, nếu có thì có phải là máu, mô cơ thể người của Bùi Văn Q hay Đinh Văn T không, mẫu nghi máu thu tại hiện trường vị trí nạn nhân T nằm có phải là máu người không, nếu là máu người thì có phải là máu của Đinh Văn T không hay Bùi Văn Q không.
- Tại bản kết luận giám định số 4608/KL-KTHS, ngày 19/07/2022 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:
1. Mẫu nghi máu và tổ chức cơ thể người nghi thu tại xe ô tô BKS: 28C-066.90 là máu, tổ chức cơ thể người của Bùi Văn Q.
2. Mẫu nghi máu ghi thu tại hiện trường (vị trí nạn nhân Tiến nằm) là máu của Đinh Văn T.
3. Lưu kiểu gen của Đinh Văn Tiến và Bùi Văn Q tại Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an.
Vật chứng vụ án:
- 01 (Một) xe ô tô BKS: 28C - 066.90; 01 (Một) giấy chứng nhận bảo hiểm TNDS số CI220256412; 01 (Một) giấy đăng ký xe ô tô số: 019135; 01 (Một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số 2034344 đã trả cho chủ sở hữu là anh Tạ Văn Tiến.
- 01 (Một) xe mô tô BKS: 26D1 - 083.13 đã trả lại cho chị Đinh Thị Ng, (người được gia đình nạn nhân T ủy quyền).
- 01Giấy phép lái xe hạng C số 360186001160 lưu trong hồ sơ.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị can Tạ Văn T đã đền bù và bồi thưởng với gia đình các bị hại cụ thể: gia đình bị hại Đinh Văn T số tiền 210.000.000 đồng (hai trăm mười triệu đồng); Gia đình bị hại Bùi Văn Q số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Gia đình các bị hại đã nhận đủ, không có yêu cầu đề nghị gì thêm.
Tại cáo trạng số: 52/CT-VKSLS ngày 03/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố bị cáo Tạ Văn T về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử.
Về tội danh, hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Tạ Văn T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Tạ Văn T từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáoTạ Văn T đã đền bù và bồi thưởng với gia đình các bị hại cụ thể: gia đình bị hại Đinh Văn T số tiền 210.000.000 đồng (hai trăm mười triệu đồng); Gia đình bị hại Bùi Văn Q số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Gia đình các bị hại đã nhận đủ, không có yêu cầu đề nghị gì thêm nên không đề nghị xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (Một) xe ô tô BKS: 28C - 066.90; 01 (Một) giấy chứng nhận bảo hiểm TNDS số CI220256412; 01 (Một) giấy đăng ký xe ô tô số: 019135; 01 (Một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số 2034344 đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Tạ Văn T đúng quy định pháp luật nên không đề nghị xử lý.
- 01 (Một) xe mô tô BKS: 26D1 - 083.13 đã trả lại cho chị Đinh Thị Ng, (người được gia đình nạn nhân Tiến ủy quyền). đúng quy định pháp luật nên không đề nghị xử lý.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS, Điểu 106 BBLTTHS, trả lại 01 (Một) giấy phép lái xe hạng C số 360186001160 cho bị cáo Tạ Văn Tiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng trình tự thủ tục, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm các phương tiện, kết luận giám định pháp y, lời khai của những người làm chứng, vật chứng của vụ án cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 08 giờ 30 cùng 13/07/2022 Tạ Văn T điều khiển xe ô tô BKS: 28C - 066.90 đi hướng hướng Xuân Mai - Chợ Bến, khi đi đến đoạn đường Km 442+600 đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận Om Làng, Cao Dương, Lương Sơn, Hòa Bình, Tạ Văn T đã điều khiển xe ô tô của mình đi chiếm 1,1m làn đường ngược chiều để vượt xe ô tô đi phía trước cùng chiều dẫn đến xảy ra va chạm với xe mô tô BKS: 28D1 - 083.13 do anh Đinh Văn T điều khiển đi hướng Chợ Bến, Xuân Mai, chở sau là anh Bùi Văn Q. Hậu quả: anh Đinh Văn T chết tại chỗ, anh Bùi Văn Q chết trên đường đi cấp cứu, hư hỏng xe ô tô và xe mô tô.
Như vậy hành vi của Tạ văn T vi phạm khoản 1, Điều 9 Luật giao thông đường bộ quy định “ Người tham gia giao thông phải đi theo bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường phần đường quy định” và phạm vào tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 BLHS.
Bản cáo trạng số 52/ CT - VKSLS ngày 03/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố Tạ Văn T theo tội danh và điều luật là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội rất nghiêm trọng, gây hậu quả lớn. Tai nạn giao thông đã và đang gây nhức nhối cho nhiều gia đình và xã hội bởi hậu quả rất lớn của nó, nguyên nhân do bị cáo không có ý thức tham gia giao thông, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, với ý thức chủ quan, mặc dù có thể thấy trước việc vượt ẩu, vi phạm quy định của pháp luật về vượt xe, tai nạn có thể xảy ra, do chủ quan dẫn tới hậu quả chết 02 người. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện tham gia giao thông đường bộ, tính mạng, sức khỏe, tài sản của tổ chức, công dân.
Xét tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các gia đình bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo ra đầu thú; gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo không thuộc những trường hợp không cho hưởng án treo. Bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục cũng có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về vật chứng vụ án:
- 01 (Một) xe ô tô BKS: 28C - 066.90; 01 (Một) giấy chứng nhận bảo hiểm TNDS số CI220256412; 01 (Một) giấy đăng ký xe ô tô số: 019135; 01 (Một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số 2034344 đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Tạ Văn T đúng quy định pháp luật nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- 01 (Một) xe mô tô BKS: 26D1 - 083.13 đã trả lại cho chị Đinh Thị Ng, (người được gia đình nạn nhân T ủy quyền). đúng quy định pháp luật nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 2 Điểu 106 BBLTTHS: Trả lại 01 (Một) giấy phép lái xe hạng C số 360186001160 cho bị cáo Tạ Văn T.
Về án phí: Bị cáo Tạ Văn T phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện bị hại có quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 3 32, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, hình phạt:
- Tuyên bố bị cáo Tạ Văn T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tạ Văn Tiến 36 ( Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 ( năm ) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 01/12/2022.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y, tỉnh Hòa Bình ,giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở nên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2.Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS, Điểu 106 BBLTTHS: Trả lại 01 (Một) giấy phép lái xe hạng C số 360186001160 cho bị cáo Tạ Văn T.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Tạ Văn T.phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo; đại diện bị hại có quyền kháng cáo bản án lên phúc thẩm. Người vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ khi bản án được niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND, VKSND tỉnh HB;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- STP tỉnh HB;
( đã ký)
- VKSND huyện Lương Sơn;
- Công an huyện Lương Sơn;
- Chi cục THA dân sự;
- Hồ sơ THAHS;
- UBND xã Phú Lai, Yên Thủy, Hòa Bình;
- Bị cáo;
- Đại diện bị hại;
Nguyễn Văn Khiêm
- Lưu hồ sơ.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Hoàng Ngô Quang Hậu
Nguyễn Văn Khiêm
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh HB; - STP tỉnh HB; - VKSND huyện Lương Sơn; - Công an huyện Lương Sơn; - Chi cục THA dân sự; - Hồ sơ THAHS; - UBND xã Phú Lai, Yên Thủy, Hòa Bình; - Bị cáo; - Đại diện bị hại; - Lưu hồ sơ. Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Khiêm HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |