- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Đình T - NGuyễn thị h"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Đình T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2022/HNGĐ-ST Ngày 30 – 9 – 2022 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Mai Phương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lý Thanh Thuỷ
2. Bà Mai Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Khánh Nguyệt – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiệp – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 168/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2022 về việc: "Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2022/QĐXX-ST ngày 09 tháng 9 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Đinh Đình T
ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Chị Đỗ Thị H
ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: phường X, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn anh Đinh Đình T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Đinh Đình T và chị Đỗ Thị H đăng ký kết hôn ngày 29 tháng 10 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân phường Bình Minh, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, trên cơ sở kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị làm thủ tục nhập hộ khẩu về chung cùng một hộ khẩu tại tổ 01, phường Bình Minh, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai và chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do trong quá trình chung sống anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn, hay bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra xích mích, cãi cọ nhau. Do không cùng tiếng nói trong cuộc sống nên anh Trọng chuyển về Khu phố 2, thị trấn Phố Lu, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai sinh sống và cắt chuyển khẩu từ tổ 01, phường Bình Minh, thành phố Lào Cai về Khu phố 2, thị trấn Phố Lu từ đó, chỉ còn chị Hà sinh sống tại đây. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình và bạn bè hoà giải nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện được. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay, không ai quan tâm đến ai, không có quan hệ gì về tình cảm và kinh tế. Đến nay anh Trọng xét thấy tình cảm giữa anh và chị Hà không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Vì vậy, anh Trọng có đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đỗ Thị H.
Về con chung, tài sản chung và công nợ: Quá trình chung sống anh chị không có con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản chung và công nợ: Anh Đinh Đình T không đề nghị Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về mối quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn nộp đầy đủ các chứng cứ theo quy định. Tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp hôn nhân gia đình, theo khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Về thủ tục tố tung: Quá trình giải quyết vụ án Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị Đỗ Thị H theo đúng quy định của pháp luật nhưng chị Hà không đến Tòa án tham gia tố tụng và cũng không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện của anh Đinh Đình T. Anh Đinh Đìn Trọng đề nghị không tiến hành hòa giải. Vì vậy, vụ án không tiến hành hoà giải theo quy định tại Khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà, bị đơn chị Đỗ Thị H mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Anh Đinh Đình T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Đinh Đình T và chị Đỗ Thị H
Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Đinh Đình T trên cơ sở căn cứ lời khai của đương sự, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:
Anh Đinh Đình T và chị Đỗ Thị H đăng ký kết hôn ngày 29 tháng 10 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân phường Bình Minh, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, trên cơ sở kết hôn tự nguyện. Do vậy, xác định hôn nhân giữa anh Trọng và chị Hà là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Xác định lời khai của anh Trọng về mâu thuẫn vợ chồng phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ như: Biên bản xác minh ngày 22/8/2022... Sau khi thụ lý, Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng cho chị Hà theo đúng quy định của pháp luật nhưng chị Hà không đến Tòa án để trình bày quan điểm, nguyện vọng của mình. Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Trọng và chị Hà đã kéo dài, thời gian sống ly thân đã lâu, hôn nhân đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của anh Đinh Đình T. Xử cho ly hôn giữa anh Đinh Đình T và chị Đỗ Thị H là có căn cứ và phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về án phí: Anh Đinh Đình T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Đình T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Đinh Đình T và chị Đỗ Thị H. Quan hệ hôn nhân giữa anh Đinh Đình T và chị Đỗ Thị H chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí: Anh Đinh Đình T phải chịu 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001682 ngày 16 tháng 8 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Anh Đinh Đình T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh (1); - VKSNDTP (2); THADS (1); - UBND phường Bình Minh, Thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (Nơi ĐKKH ngày 29/10/2008) (1); - Các đương sự (2); - Lưu hồ sơ vụ án (1); - Lưu văn phòng (1). | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Mai Phương |