- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Bản án xác định cha con A - Q"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Hoài A.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2022/HNGĐ-ST Ngày: 20 - 7 - 2022 V/v tranh chấp xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Phạm Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Xuân Lập
2. Bà Lê Thị Xuân Hương
- Thư ký phiên toà: bà Phạm Thị Lý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng
Ninh tham gia phiên tòa: ông Đặng Quang Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hạ Long
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 225/2022/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2022 về việc “tranh chấp xác nhận cha cho con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Ngô Hoài A, sinh năm 1990; địa chỉ: tổ 7, khu 1,
phường H, thành phố H1, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
2. Bị đơn: anh Vũ Mạnh Q, sinh năm 1991; địa chỉ: tổ 7, khu 6, phường H,
thành phố H1, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Đặng Hữu T, sinh năm
1986; nơi thường trú: số 11/155 H2, phường H3 quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: số 243 đường Kiều Hạ, phường Đ, quận H4, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn - chị Ngô Hoài A trình bày: chị và anh Đặng Hữu T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Đến tháng 01 năm 2022, chị và anh T đã ly hôn theo Bản án số 04/2022/HNGĐ-ST ngày 14-01-2022 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Trong thời kỳ hôn nhân, giữa chị và anh T xảy ra mâu thuẫn nên chị đã về nhà mẹ đẻ ở Quảng Ninh sinh sống, anh T ở thành phố Hải Phòng, hai người sống ly thân mỗi người một nơi. Thời gian này chị có quan hệ tình cảm với anh Vũ Mạnh Q, chị mang thai và sinh một cháu trai ngày 14/12/2021 tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng ninh, dự kiến đặt tên là Vũ Minh K. Chị xác định, cháu trai do chị sinh ra ngày 14/12/2021 là con chung giữa chị và anh Vũ Mạnh Q. Nay, chị đề nghị Tòa án xác định anh Vũ Mạnh Q là cha đẻ của cháu trai do chị sinh ra ngày 14/12/2021.
Tại bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Vũ Mạnh Q
trình bày: năm 2021, anh có quan hệ tình cảm với chị Ngô Hoài A, khi đó chị Ngô Hoài A chưa ly hôn chồng là anh Đặng Hữu T. Anh cũng thừa nhận cháu trai do chị Hoài A sinh ra ngày 14/12/2021 tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh là con đẻ của anh.
Tại bản tự khai - người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đặng Hữu T
trình bày: cháu trai do chị Ngô Hoài A sinh ra ngày 14/12/2021 không phải là con của anh vì thời điểm chị Hoài A mang thai và sinh cháu trai này anh và chị Hoài A đã sống ly thân, không gặp nhau một thời gian dài.
Tại phiếu kết quả xét nghiệm ADN số 2378H/2022 ngày 26/5/2022 của
Công ty TNHH Công nghệ Di truyền NOVAGEN kết luận: Vũ Mạnh Q có quan hệ huyết thống bố - con với Vũ Minh K, độ tin cậy trên 99,999999%.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt, các đương sự giữ nguyên quan điểm như đã
trình bày ở trên.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh
Quảng Ninh phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký
phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 88, 101 và 102 Luật Hôn
nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định cháu Vũ Minh K – tên khai sinh dự kiến (Giấy chứng sinh số 21.1617, quyển số 17 do bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 14/12/2021, giới tính: nam, sinh ngày: 14/12/2021) là con đẻ của anhVũ Mạnh Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiêntòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ án tranh
chấp hôn nhân và gia đình về việc “xác định cha cho con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Vũ Mạnh Q, cư trú tại tổ 7, khu 6, phường H, thành phố H1, tỉnh Quảng Ninh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của các đương sự: chị Ngô Hoài A, anh Vũ Mạnh Q
và anh Đặng Hữu T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy việc Tòa án xét xử vắng mặt chị Hoài A, anh Q và anh T là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: chị Ngô Hoài A và anh Đặng
Hữu T là vợ chồng, có đăng kí kết hôn theo quy định pháp luật, đã ly hôn theo Bản án số 04/2022/HNGĐ-ST ngày 14-01-2022 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, giữa chị Hoài A và anh T xảy ra mâu thuẫn nên hai anh chị đã sống ly thân, mỗi người một nơi. Trong thời kỳ hôn nhân với anh T, chị Hoài A có quan hệ tình cảm với anh Vũ Mạnh Q, chị mang thai và sinh một cháu trai ngày 14/12/2021 tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng ninh, dự kiến đặt tên là Vũ Minh K. Tại khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng”. Như vậy, cháu trai do chị Hoài A sinh ra ngày 14/12/2021 theo quy định của pháp luật là con chung của chị Hoài A và anh T. Tuy nhiên, tại phiếu kết quả xét nghiệm ADN số 2378H/2022 ngày 26/5/2022 của Công ty TNHH Công nghệ Di truyền NOVAGEN kết luận: Vũ Mạnh Q có quan hệ huyết thống bố - con với Vũ Minh K, độ tin cậy trên 99,999999%. Bị đơn anh Vũ Mạnh Q thừa nhận cháu trai do chị Hoài A sinh ra ngày 14/12/2021 là con đẻ của anh. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đặng Hữu T xác định cháu trai do chị Hoài A sinh ra ngày 14/12/2021 không phải là con đẻ của anh. Như vậy, có đủ cơ sở xác định anh Vũ Mạnh Q là cha đẻ của cháu trai do chị Ngô Hoài A sinh ra ngày 14/12/2021. Chị Ngô Hoài A yêu cầu xác định anh Vũ Mạnh Q là cha đẻ của cháu trai do chị sinh ra ngày 14/1/2021 là phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về án phí: căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Đương sự thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: nguyên đơn, bị đơn, người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 88, 101 và 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Hoài A.
Xác định anh Vũ Mạnh Q, sinh năm 1991; địa chỉ: tổ 7, khu 6, phường H,
thành phố H1, tỉnh Quảng Ninh là cha đẻ của cháu trai dự định đặt tên là Vũ Minh K, do chị Ngô Hoài A sinh ra ngày 14/12/2021 theo Giấy chứng sinh số 21.1617, quyển số 17 cấp ngày 14/12/2021 tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh.
2. Về án phí: chị Ngô Hoài A và anh Vũ Mạnh Q được miễn án phí dân sự
sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP Hạ Long; - Chi cục THADS TP Hạ Long; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Cúc |