vanban.org

Bản án 49/2021/HSST — Hình sự

TAND TX. Lagi, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 24/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn T "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ L
TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 49/2021/HSST
Ngày: 24/5/2021

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Từ Quốc Thái Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quang và ông Võ Thanh Đức

- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Yến Nhi - Thư ký Toà án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Hoàng Kim Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã L, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2021, đối với bị cáo:

TRƯƠNG VĂN T - Sinh năm: 1985, tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi cư trú: Ấp Bến Lội, xã Bình Châu, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động biển; Trình độ học vấn: 5/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Tiền án - Tiền sự: Không; Con ông: Trương S (Chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1944; Chung sống như vợ chồng với chị Mai Ý P, sinh năm: 1997 (chưa đăng ký kết hôn); Có 01 con tên Mai Ý M, sinh năm 2014; Bị cáo bị bắt ngày 05/01/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã L. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 05/01/2021, Trương Văn T điều khiển xe môtô hiệu Yamaha Sirius, biển số 72G1- 368.94 đi từ nhà thuộc ấp Bến Lội, xã Bình Châu, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu qua thị xã L, tỉnh Bình Thuận với mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực xóm Sình thuộc phường A, thị xã L, Trường gặp và mua của một người phụ nữ (không rõ nhân thân lai lịch) 02 bịch ma túy, với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Trường cất ma túy vào túi quần rồi điều khiển xe đi về. Khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, khi Trường đang điều khiển trên đường Lê Lợi thuộc khu phố 1, phường Phước Hội, thị xã L, thì bị lực lượng Công an phường Phước Hội yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong túi quần bên phải của Trường có 02 gói nylon màu trắng được hàn kín, kích thước (1 x 2)cm, bên trong chứa chất màu trắng dạng rắn. Lực lượng công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật.

Tại Kết luận giám định số 10/KLGĐ-PC09 ngày 11/01/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: "Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,8836 gam; là Heroine".

Vật chứng vụ án: Đối với 02 gói nylon và 0,8303 gam mẫu vật còn lại được niêm phong trong phong bì số 10 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận đã được chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L quản lý. Đối với chiếc xe môtô hiệu Yamaha Sirius biển số 72G1- 368.94, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã L đã trả lại cho bà Nguyễn Thị L (mẹ ruột của Trường) vào ngày 05/3/2021.

Tại bản cáo trạng số: 38/CT-VKS ngày 24/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã L truy tố bị cáo Trương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trương Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Văn T, phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"; Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Phạt: Bị cáo Trương Văn T, mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù

* Về biện pháp tư pháp; Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 10 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận.

- Tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn T khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã L truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

- Bị cáo Trương Văn T không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã L.

- Bị cáo Trương Văn T nói lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Tại tòa, bị cáo Trương Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã L đã truy tố. Xét, lời khai của bị cáo tại Tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, bản kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ căn cứ để kết luận: Vào lúc 10 giờ 20 phút ngày 05/01/2021, trên đường Lê Lợi thuộc khu phố 1, phường P, thị xã L, bị cáo Trương Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,8836 gam Heroine (có đặc điểm: 02 gói nylon màu trắng được hàn kín, kích thước (1x2)cm, bên trong chứa chất màu trắng dạng rắn) trong túi quần bên phải của bị cáo, thì bị Công an phường P, thị xã L phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật. Bị cáo T khai nhận toàn bộ số ma túy này là của bị cáo, tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Xét thấy, bị cáo Trương Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,8836 gam Heroine, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý, đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát thị xã L truy tố bị cáo Trường Văn Trường về tội danh, điều luật áp dụng nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Trương Văn T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, để nhận thức rõ ma tuý là chất gây nghiện, tệ nạn ma túy không những xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, mà còn là một trong những nguyên nhân nảy sinh ra nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 05/01/2021, bị cáo điều khiển xe máy từ ấp Bến Lội, xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến khu vực xóm Sình, thuộc phường A, thị xã L, mua ma túy cất giấu trong người, thì bị bắt như đã nêu trên. Hành vi phạm tội của bị cáo Trương Văn T là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường pháp luật, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, để bị cáo có điều kiện cai nghiện, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Đối với đối tượng bán ma tuý cho bị cáo, bị cáo Trường khai không rõ nhân thân, lai lịch, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã L tiếp tục xác minh, làm rõ nếu đủ căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ, bị cáo là lao động chính. Do đó, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì được niêm phong, còn nguyên vẹn số 10 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận. Xét, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe môtô hiệu Yamaha Sirius biển số 72G1- 368.94. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L đã trả lại cho bà Nguyễn Thị L (mẹ ruột của bị cáo T) vào ngày 05/3/2021, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Trương Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trương Văn T có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2] Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn T, phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

[3] Xử phạt: Bị cáo Trương Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 05/01/2021.

[4] Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ 01 (Một) phong bì được niêm phong, còn nguyên vẹn số 10 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận. Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã L, có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/3/2021 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã L và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L.

[5] Về án phí: Bị cáo Trương Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung. *Nơi nhận:

Cỡ chữ