- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2021/HSST Ngày: 22 – 09 – 2021 |
N H Â N D A N H
NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH – TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
Các Hội thẩm nhân dân :
Ông Nguyễn Đình Thanh; Ông Vũ Văn Phong
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngát – Thư ký TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 09 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xử số: 50/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 09 năm 2021 đối với bị cáo:
Trần Văn M, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Xóm 10, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Doanh M, sinh năm 1958, con bà: Đỗ Thị L, sinh năm 1961, nơi cư trú: Xóm 10, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Gia đình có 3 anh chị em, bị cáo là thứ 3; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/06/2021, bị tạm giam từ ngày 17/06/2021, đến nay bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 14/6/2021, M mang theo 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) đi bộ từ nhà đến khu vực bãi rác xã Trực Đạo, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi M gặp một người đàn ông không quen biết, đang đứng một mình. Nghĩ người này có bán ma túy, M đến gần hỏi: “Có trắng không để cho cái hai trăm” ý hỏi mua gói Heroin với giá 200.000đ. Người đàn ông này trả lời: “Có, đưa tiền đây”. M đưa cho người này số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Người đàn ông nhận tiền rồi đưa lại cho M một gói giấy nhỏ màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. M cầm gói giấy trên tay mở ra biết là ma túy Heroin rồi gói lại cất vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc, sau đó đi bộ về nhà tìm nơi để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày M đi bộ về đến nhà thì bị tổ công tác Công an huyện Trực Ninh phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái M đang mặc 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột dang cục màu trắng. M khai đó là gói ma túy Heroin của M cất giấu trong người mục đích để sử dụng. Công an huyện Trực Ninh đã niêm phong gói thu của M nêu trên, ký hiệu M.
Kết luận giám định số: 804/GĐKTHS ngày 15/6/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma tuý. Loại ma tuý: Heroin. Khối lượng mẫu M: 0,157 gam.
Đối với người đàn ông không quen biết mà M khai đã bán ma túy tại khu vực bãi rác xã Trực Đạo, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, cơ quan CSĐT Công an huyện Trực Ninh đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được là ai để xử lý.
Tại cơ quan điều tra Trần Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Cáo trạng số 45/QĐ-KSĐT ngày 06 tháng 9 năm 2021 của VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Trần Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng nêu trên, sau khi luận tội đã đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt Trần Văn M từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy. Loại ma túy Heroin đã thu của Trần Văn M.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về đoàn tụ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay; lời khai của người làm chứng; biên bản về việc bắt giữ người phạm tội quả tang; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 14/6/2021 Trần Văn M đã có hành vi cất giấu trong túi quần đang mặc chất ma túy có trọng lượng 0,157 gam là Heroin để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS.
Bị cáo là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả nguy hiểm về hành vi phạm tội của mình đối với đời sống xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo, cũng như việc phòng chống tội phạm nói chung. Xét nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiện hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Căn cứ vào tính chất, mức độ cuả hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. HĐXX xét thấy; cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Heroin đã thu của bị cáo.
Án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Xử phạt bị cáo Trần Văn M 18 (Mười tám ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2021.
2. Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tuyên tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Heroin đã thu của Trần Văn M có trong bì thư số 804/GĐKTHS của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 48/THA ngày 08 tháng 09 năm 2021, giữa CQCSĐT Công an huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS. Điều 23 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn M có quyền kháng cáo trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện + tỉnh Nam Định; - Công an huyện Trực Ninh; - Chi cục THADS huyện Trực Ninh; - UBND xã T, huyện T; - Lưu HSVA + VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Kim Thu |