- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 49/2021/HSST Ngày 28/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị Tỵ
2. Bà Lò Thị Hoan
Thư ký Toà án: Bà Lò Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La.
Đại diện VKSND huyện Q, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà:
Ông Vừ Bả Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2021/TLST - HS ngày 10 tháng 9 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2021/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo.
1/ Họ và tên: Lường Văn H, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1987 tại; Bản H, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản Bản H, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên: Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn); Lớp: 10/12; Đảng phái đoàn thể: Không; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo; Không; Con ông: Lường Văn X và bà Lò Thị H; Bị cáo có vợ là Lò Thị N và có 01 con 06 tuổi, con nhỏ nhất 04 tuổi. Đều trú tại: Bản Bản H, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên
Tiền án; Tiền sự: Không. Nhân thân tốt; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2021 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28/6/2021 tại bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La Lường Văn H có hành vi tàng trữ 101 viên ma túy loại gam Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ: - 01 gói nilon màu xanh, hàn kín bên trong có chứa các viên dạng nén nghi là ma túy).
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HODA, BKS 27B1- 834.82, 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Lường Văn Hái.
Cùng ngày Công an huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La phối hợp với các quan chức năng tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Lường Văn H, Lường Văn D, kết quả: Lường Văn H, Lường Văn D đều dương tính với chất ma túy.
Ngày 30/6/2021 Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Nhai phối hợp với các cơ quan chức năng thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh, xác định khối lượng số viên nén nghi là ma túy thu giữ của Lường Văn H; Số viên dạng nén màu hồng là 101 viên có tổng khối lượng là 8,95 gam, trích 05 viên có tổng khối lượng là 0,47 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu A1, còn lại 97 viên có tổng khối lượng 8,48 gam, ký hiệu A2.
Tại bản kết luận giám định số: 1221 ngày 01/7/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận “Mẫu gửi giám định ký hiệu A1 là ma túy, loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,47 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 8,95 gam; loại Methamphetamine ”. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 28/6/2021 Lường Văn Hà đi bộ từ nhà đến nhà ông Mùa Gà D ở bản P, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Đến nhà D, D ở nhà nên H hỏi mua được của D 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa viên hồng phiến với giá 1.500.000đ và được D tặng cho Hà 01 gói Heroine, mua được ma túy H cất ma túy vào túi quần bên phải rồi đi bộ về nhà, về đến nhà H lấy 01 viên hồng phiến trộn với số Heroine sử dụng hết, còn lại số hồng phiến H cất vào túi quần như cũ. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, H mang theo số ma túy trên đến nhà Lường Văn D, sinh năm 1999, trú tại bản H, xã Ẳ, huyện M (Là cháu ruột của H) nhờ D chở xuống Thành phố Sơn La để tìm việc làm thuê, D đồng ý. D điều khiển xe máy BKS 27B1 – 834.82 chở H xuống Thành phố Sơn La. Khi đi đến bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an huyện Q, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 42/CT - VKS - QN ngày 09/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Sơn La đã truy tố Lường Văn H về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lường Văn H; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lường Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lường Văn H từ 05 (năm) 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm tù.
Không phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đề nghị tuyên tiêu hủy: - 01 phong bì còn nguyên niêm phong; Mặt trước có ghi; Vật chứng lưu kho vụ Lường Văn H, Lường Văn D, Tàng trữ trái phép chất ma túy gồm: Gồm 01 túi nilon màu xanh, 01 túi nilon màu trắng hàn kín bên trong đựng 96 viên dạng nén màu hồng có khối lượng 8,48 gam ký hiệu A2, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau được dán đè giấy niêm phong số 006061.
- 01 que thử ma túy của Lường Văn H, đã được dán đè giấy niêm phong số 006060.
- 01 que thử ma túy của Lường Văn D, đã được dán đè giấy niêm phong số 006059.
Bị cáo Lường Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
C¨n cø vµo c¸c chøng cứ vµ tµi liÖu có trong hồ sơ, ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ; C¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, bÞ c¸o và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa về thời gian, địa điểm và diễn biến sự việc phù hợp với các căn cứ khác: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng thu giữ. Kết luận giám định “ Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ là 8, 95gam Methamphetamine ”. Bị cáo khai mục đích mua để sử dụng cho bản thân.
Như vậy: Có đủ căn cứ kết luận: Ngày 28/6/2021 tại bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La, Công an huyện Q,tỉnh Sơn La bắt quả tang Lường Văn H về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, sức khỏe con người và sự phát triển bình thường của nòi giống dân tộc, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua chất ma túy là Methamphetamine để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng vì nhu cầu sử dụng của bản thân, bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, quy định khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm tù; Tại phiên tòa bị cáo Lường Văn H thừa nhận việc bị truy tố và bị đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, sai cho bị cáo. Do vậy; bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, để bị cáo có ích cho gia đình, cho xã hội và có ý thức tuân theo pháp luật, để răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý nói chung tại địa phương hiện nay.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo Lường Văn H có ông nội là ông Lường Văn L là người có công với Cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng ba là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Qua xác minh, bị cáo hiện nay đang sống chung cùng bố, mẹ và sống vào nghề lao động tự do, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Lường Văn H khai số ma túy trên mua với ông Mùa Gà D trú tại bản P, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên vào ngày 28/6/2021, qua xác minh đối tượng Mùa Gà D không có mặt tại địa phương, gia đình và chính quyền không biết D đi đâu và làm gì, ngoài việc trao đổi mua bán chất ma túy giữa bị cáo H và Mùa Gà D ra không có ai chứng kiến, tham gia cùng và ngoài lời khai của bị cáo Lường Văn Hà ra không có tài liệu khác chứng minh. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Sơn La cần tiếp tục điều tra xác minh, nếu có đủ căn cứ thì sẽ có hình thức xử lý sau. Do vậy; bị cáo Lường Văn H phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ số 8,95 Mathamphetamine thu giữ nêu trên.
Đối với Lường Văn D, sinh năm 1999, trú bản H, xã Ẳ, huyện M, tỉnh Điện Biên (là cháu ruột của Lường Văn H) là người chở H đi làm thuê, quá trình điều tra xác định D không biết H có ma túy trên người, nên liên quan đến hành vi phạm tội của H. Do vậy, không có căn cứ xử lý để đối với Lường Văn D.
Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lường Văn D, trong quá trình điều khiển xe máy, xe mô tô mà trong cơ thể có chất ma túy. Thì hành vi của Lường Văn D đã vi phạm vào điểm h khoản 8 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ – CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Do vậy; Kiến nghị Công an huyện Q, tỉnh Sơn La phải có biện pháp xử lý hành chính đối với Lường Văn D theo quy định tại Nghị định nêu trên.
Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 117981, mang tên Lường Văn H, 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 27B1 – 834.82 loại xe WAVE RSX màu sơn đỏ, đen. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên là của anh Lường Văn H (bố đẻ của Lường Văn D), việc Lường Văn D lấy xe chở H đi Sơn La làm thuê và trên người H có ma túy anh không biết, đồng thời anh Lường Văn H đã cung cấp đầy đủ các loại giấy tờ xe chứng minh chiếc xe máy trên thuộc quyền sở hữu của anh và anh có đơn xin lại xe máy. Nên ngày 11/8/2021 Công an huyện Q, tỉnh Sơn La đã trả lại chiếc xe máy nêu trên cho anh Lường Văn H quản lý, sử dụng là có căn cứ.
Vật chứng vụ án: - 01 phong bì còn nguyên niêm phong; Mặt trước có ghi; Vật chứng lưu kho vụ Lường Văn H, Lường Văn D, Tàng trữ trái phép chất ma túy gồm: Gồm 01 túi nilon màu xanh, 01 túi nilon màu trắng hàn kín bên trong đựng 96 viên dạng nén màu hồng có khối lượng 8,48 gam ký hiệu A2, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau được dán đè giấy niêm phong số 006061.
- 01 que thử ma túy của Lường Văn H, đã được niêm phong và dán đè giấy niêm phong số 006060.
- 01 que thử ma túy của Lường Văn D, đã được dán đè giấy niêm phong số 006059. Đối với 8,48 gam Methamphetamine bị Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, 01 vỏ phong bì, 01túi nilon màu xanh và 02 que thử ma túy là vật không có giá trị sử dụng, nên cần tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo Lường Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QuyÕt ®Þnh:
1/ Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lường Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Lường Văn H 05 (Năm) 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2021.
Không phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo.
2/ Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tiêu hủy: - 01 phong bì còn nguyên niêm phong; Mặt trước có ghi; Vật chứng lưu kho vụ Lường Văn H, Lường Văn D, Tàng trữ trái phép chất ma túy gồm: Gồm 01 túi nilon màu xanh, 01 túi nilon màu trắng hàn kín bên trong đựng 96 viên dạng nén màu hồng có khối lượng 8,48 gam ký hiệu A2, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Mặt sau được dán đè giấy niêm phong số 006061.
- 01 que thử ma túy của Lường Văn H, đã được niêm phong và dán đè giấy niêm phong số 006060.
- 01 que thử ma túy của Lường Văn D, đã được niêm phong và dán đè giấy niêm phong số 006059.
Theo biên bản bàn giao vật chứng số 47/2021 ngày 10/9/2021 giữa Công an huyện Q, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Sơn La.
3/ Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án - Bị cáo Lường Văn H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 28/9/2021./. N¬i nhËn:
| - TA ND TØnh - VKSND (02) - C«ng an (02) - THA h×nh sù - THA d©n sù - UBND xã - BÞ c¸o - L u ¸n v¨n - L u hå s¬. | T/m.héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bàn Văn Hoàng |