vanban.org

Bản án 49/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An Tuyên án 11/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo NVS phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo NVS 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 28 tháng 02 năm 2021. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015: Tịch thu, tiêu hủ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Sơn Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo NVS phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HN
TỈNH NA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2021/HSST
Ngày 11-11-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HN, TỈNH NA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phan Hương;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trọng Dư;

2. Ông Trần Văn Dũng.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Oanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện HN, tỉnh NA;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HN tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phi Thăng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2021 tại Hội trường Toà án nhân dân huyện HN, tỉnh NA xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2021/HSST- QĐ ngày 14 tháng 10 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16a ngày 29 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ tên: NVS, sinh ngày 09 tháng 01 năm 1974 tại thành p V, tỉnh NA; nơi cư trú: Khối Mỹ Thành, phường ĐV, thành p V, tỉnh NA; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông NTT, sinh năm: 1947 và bà NTM (đã mất); vợ NTLvà có 04 con; lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:

- Năm 1991 bị Tòa án nhân dân thành p V xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.

1

- Năm 1993 bị Tòa án nhân dân thành p V xử phạt 6 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp là 12 tháng tù.

- Năm 1995 bị Tòa án nhân dân tỉnh NA xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Tổng hợp là 06 năm tù.

- Năm 2001 bị Tòa án nhân dân tỉnh NA xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 05/3/2004.

- Năm 2010 bị Tòa án nhân dân thành p V xử phạt 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong ngày 05/7/2012.

- Năm 20216 bị Tòa án nhân dân thành p V xử phạt 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuy”. Chấp hành xong ngày 02/10/2016.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/2/2021 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Chị NTL, sinh năm: cư trú tại: Khối Vĩnh Thành, phường ĐV, thành p V, tỉnh Nghê An. (Có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo: Bà NTNLuật sư thuộc văn phòng luật sư thuộc đoàn luật sư NA. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 25 tháng 02 năm 2021, NVS trên đường đi về nhà mình tại xóm Mỹ Thành, phường ĐV, thành p V thì phát hiện trên mặt đường có một gói bao ni lông màu đen. S nhặt gói đó đem về nhà để kiểm tra thì thấy bên trong có 03 gói nhỏ potylen màu trong suốt, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng. Do bản thân là người nghiện ma túy nên S biết số chất bột màu trắng là Heroin. Sau đó, S lấy một ít Heroine trong một gói ra sử dụng bằng hình thức hút hít. Sử dụng xong Heroin, S lấy bao ni lông màu đen gói 02 gói potylen còn lại để trên nóc tủ trong phòng ngủ. Gói potylen còn lại S đổ ra rồi gói lại bằng một mảnh tờ lịch rồi bỏ vào túi quần để khi nào sử dụng thì lấy ra dùng cho tiện. Đến khoảng 11 giờ 15 phút, ngày 28 tháng 02 năm 2021, S bỏ gói Heroin trong túi quần và điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát: 37B3-005.98, loại VISION, nhãn hiệu HONDA,(đây là xe của NTL là vợ của S, khi S mang xe mô tô đi thì S nói đi mua bò) lên huyện HN, tỉnh NA để tìm mua bò. Khi đi đến xóm 4, xã X L, huyện HN, tỉnh NA thì bị Tổ công tác Công an huyện HN kiểm tra phát hiện do sợ hãi nên S dùng tay trái lấy từ trong túi quần bên trái phía trước một gói nhỏ bỏ ra nền đường. Tổ công tác đã tiến hành

2

thu giữ gói nhỏ mà S bỏ ra. Tại chỗ, NVS khai nhận gói nhỏ được bọc bằng tờ giấy lịch mà S bỏ ra là Heroin mà S mang đi để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đồng thời thu giữ toàn bộ vật chứng gồm: 01 gói nhỏ được bọc bằng tờ giấy lịch, trên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 xe mô tô Biển kiểm soát: 37B3-005.98; 01 điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL; số tiền 12.100.000 đồng.

Cùng ngày 28 tháng 02 năm 2021,Cơ quan CSĐT Công an huyện HN tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của S tại khối Mỹ Thành, phường ĐV, thành p V, tỉnh NA. Qua khám xét phát hiện thu giữ tại phòng ngủ thứ hai hướng từ ngoài vào: phía trên nóc tủ nhôm có 01 túi ni lông màu đen, bên trong túi ni lông màu đen có: 04 mảnh giấy lịch đã bị xé; 01 mảnh giấy thiếc màu bạc; 01 cân điện tử màu đen và một túi ni lông màu đen, bên trong có 02 gói ni lông màu trong suốt: gói thứ nhất có kích thước (13,5x8)cm trong cùng có chứa chất bột màu trắng; gói thứ hai có kích thước (16x10)cm trong cùng có chứa chất bột màu trắng.

Tại Biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 01 tháng 3 năm 2021 của Hội đồng mở niêm phong xác định:

Gói thứ nhất: 01 phong bì bưu điện được niêm phong theo đúng quy định, mặt ngoài có ghi hàng chữ viết: “Giói niêm phong vật chứng thu giữ của NVS (1974), trú tại khối Mỹ Thành, phường ĐV, thành p V, tỉnh NA vào ngày 28/02/2021 tại xóm 4, xã X L, huyện HN, tỉnh NA”. Tiến hành mở gói niêm phong thứ nhất thấy bên trong có 01 gói được gói ngoài bằng giấy lịch nhiều màu sắc, bên trong có chứa chất bột màu trắng. Tiến hành cân gói được gói ngoài bằng giấy lịch nhiều màu sắc, bên trong có chứa chất bột màu trắng có khối lượng cả bao bì là 4,535 gam. Sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng là 1,005 gam, số chất bột màu trắng còn lại có khối lượng 3,53 gam. Hội đồng đã lấy 1,025 gam chất bột màu trắng (Ký hiệu M1) để đưa đi giám định. Số vật chứng còn lại có khối lượng 2,505 gam (Ký hiệu M1’).

Gói thứ hai: 01 phong bì công văn Công an huyện HN được niêm phong theo đúng quy định mặt ngoài có ghi hàng chữ viết: “Gói niêm phong vật chứng thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của NVS (1974), trú tại khối Mỹ Thành, phường ĐV, thành p V, tỉnh NA vào ngày 28/02/2021 tại khối Mỹ Thành, phường ĐV, thành p V, tỉnh NA”.Tiến hành mở gói niêm phong thứ hai thấy bên trong có 02 gói potylen màu trong suốt, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng. Tiến hành cân gói potylen thứ nhất, bên trong có chứa chất bột màu trắng có khối lượng cả bì là 24,905 gam. Sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng là 2,150 gam, số chất bột màu trắng còn lại có khối lượng 22,755 gam. Hội đồng đã lấy 4,475 gam

3

(Ký hiệu M2) chất bột màu trắng để đưa đi giám định. Số vật chứng còn lại có khối lượng 18,28 gam (Ký hiệu M2’). Tiến hành cân gói thứ hai, bên trong có chứa chất bột màu trắng có khối lượng cả bao bì là 40,805 gam. Sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng 2,950 gam, số chất bột màu trắng còn lại có khối lượng là 37,855 gam. Hội đồng đã lấy 6,450 gam (Ký hiệu M3) chất bột màu trắng để đưa đi giám định. Số vật chứng còn lại có khối lượng 31,405 gam (Ký hiệu M3’).

Tại kết luận giám định số 375/KL-PC09 ngày 04/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh NA kết luận: 03 mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M1, M2, M3) thu giữ của NVS gửi đến giám định đều là ma túy loại (Heroine). Có khối lượng 64,140 gam.

Trong quá trình điều tra, NVS có biểu hiện của bệnh tâm thần nên Cơ quan CSĐT Công an huyện HN đã ra quyết định trưng cầu giám định tâm thần đối với S. Tại bản kết luận giám định số 37/BBGNQTGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2021 của Phân Viện pháp y tâm thần Bắc miền trung thuộc Viện pháp y tâm thần Trung ương Bộ Y tế kết luận:

-Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội (ngày 28 tháng 02 năm 2021), bị can NVS có hội chứng nghiện nhiều loại ma túy. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD) có mã số là F19.2. Tại các thời điểm này NVS có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

-Tại thời điểm giám định, NVS bị bệnh: Rối loạn cảm xúc di chứng khởi phát muộn do sử dụng nhiều loại ma túy. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (CID10) có mã số F19.72. Tại thời điểm này NVS hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Vật chứng vụ án:

01 (Một) phong bì thư công văn Công an huyện HN dán kín niêm phong theo đúng quy định, mặt trước phong bì có ghi hàng chữ viết: “Gói niêm phong vật chứng ĐTDĐ thu giữ của NVS (1974) trú tại khối Mỹ Thành, phường ĐV, thành p V, tỉnh NA, vào ngày 28/02/2021 tại xóm 4, xã X L, huyện HN, tỉnh NA;

01 (Một) phong bì thư công văn Công an huyện HN dán kín niêm phong theo đúng quy định, mặt trước phong bì thư có ghi hàng chữ viết: “Gói niêm phong tiền vật chứng thu giữ của NVS (1974) trú tại khối Mỹ Thành, phường ĐV, thành p V, tỉnh NA, vào ngày 28/02/2021 tại xóm 4, xã X L, huyện HN, tỉnh NA”;

01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại VISION mang Biển kiểm soát: 37B3- 00598. Tất cả các vật chứng trên đã được trả lại cho chủ sở hữu là chị NTL theo đúng quy định.

4

01 (Một) phong bì thư công văn Công an huyện HN dán kín niêm phong theo đúng quy định, mặt trước phong bì có ghi hàng chữ viết: “Gói niêm phong vật chứng thu giữ của NVS (1974) trú tại khối Mỹ Thành, phường ĐV, thành p V, tỉnh NA, vào ngày 28/02/2021 tại xóm 4, xã X L, huyện HN, tỉnh NA. Sau khi mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu gửi đi giám định và niêm phong lại ”;

04 (Bốn) mảnh giấy lịch đã bị xé;

01 (Một) mảnh giấy thiếc màu bạc;

01 (Một) cân điện tử màu đen;

01(Một) túi ni lông màu đen.

Bản Cáo trạng số 50/CT-VKS-HS ngày 07 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện HN, tỉnh NA đã truy tố bị cáo NVS về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn im lặng không khai báo.

Đại diện VKSND huyện HN giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo im lặng không khai báo về hành vi phạm tội nhưng căn cứ vào Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét nơi ở, Biên bản ghi lời khai ban đầu ngay sau khi bị bắt vào ngày 28 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo đã được chủ tọa công bố tại phiên Tòa nên VKS giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh đề nghị HĐXX tuyên bố: Bị cáo NVS phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s, q khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt các bị cáo NVS từ 12 năm 06 tháng tù đến 13 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28 tháng 02 năm 2021. Vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo giữ quyền im lặng không nói gì về phần tranh luận cũng như trình bày lời nói sau cùng.

Luật sư bào chữa cho bị cáo không tranh luận gì. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự về tình tiết: Tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tình tiết bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện HN, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện HN, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ

5

luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

.Về chứng cứ xác định tội danh: Bị cáo không khai tại phiên tòa nhưng căn cứ vào Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 28 tháng 2 năm 2021, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 28 tháng 2 năm 2021; Biên bản khám xét chỗ ở của bị cáo; kết luận giám định pháp y tâm thần và các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Số lượng ma túy tại thời điểm bắt quả tang bị cáo NVS tại xóm 4, xã HL, huyện HN, tỉnh NA có trọng lượng 3,53 gam. Số ma túy thu giữ tại thời điểm khám xét chỗ ở của bị cáo tại khối Mỹ Thành, phường ĐV, thành p V, tỉnh NA có trọng lượng 22,755 gam và 37,855 gam. Như vậy, bị cáo đã có hành tàng trữ số lượng ma túy (Hêrôin) có tổng trọng lượng là 64,140 gam.

Căn cứ vào khối lượng ma túy và hành vi của bị cáo và đối chiếu với quy định của Điều luật thì hành vi của bị cáo NVS có đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Tại thời điểm này, Bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Nhưng khi thực hiện hành vi phạm tội (ngày 28 tháng 02 năm 2021), bị cáo NVS có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên đủ năng lực để chịu trách niệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, cần phải xử phạt tù đối với bị cáo mới đủ tính chất răn đe giáo dục.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn. Tại bản kết luận giám định số 37/BBGNQTGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2021 của Phân Viện pháp y tâm thần Bắc miền trung thuộc Viện pháp y tâm thần Trung ương Bộ Y tế kết luận: Bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

6

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Số chất bột màu trắng thu giữ của NVS là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với 04 (Bốn) mảnh giấy lịch đã bị xé; 01 (Một) mảnh giấy thiếc màu bạc; 01 (Một) cân điện tử màu đen; 01(Một) túi ni lông màu đen là các vật không có giá trị sử dụng nên cần tịnh thu tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại di động Masstel đã qua sử dụng bên trong có số thuê bao 0392581415; số tiền 12.100.000 đồng và chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại VISION, Biển kiểm soát: 37B3-005.98 thu giữ của NVS. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện HN đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật nên tòa không xem xét.

. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo NVS phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ: Điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s, q khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo NVS 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 28 tháng 02 năm 2021.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015: Tịch thu, tiêu hủy gói niêm phong chất bột màu trắng và 04 (Bốn) mảnh giấy lịch đã bị xé; 01 (Một) mảnh giấy thiếc màu bạc; 01 (Một) cân điện tử màu đen; 01(Một) túi ni lông màu đen thu giữ của NVS. Chi tiết có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 10 năm 2021.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân dân tỉnh NA trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

7

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ