- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Y phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2021/HS-ST Ngày 22/6/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tòng Văn Quân.
Ông Lò Văn Hiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Kiên, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:49/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Lò Văn Y (tên gọi khác: không), sinh năm 1980, tại huyện Đ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 3, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn H, sinh năm 1955 và bà Lò Thị P, sinh năm 1958; vợ: Lường Thị T, sinh năm 1982 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 17/9/2015, Tòa án nhân dân huyện Đ tuyên phạt 30 tháng tù về tội “ tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và các quyết định khác của bản án và đã được xóa án tích. Bị bắt tạm giữ từ 10 giờ 30 phút ngày 05/3/2021 đến 10 giờ 30 phút ngày 14/3/2020, sau đó được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến ngày 15/5/2021 bị bắt tạm giam cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 05/3/2021 sau khi uống Methadone tại thị trấn Đ xong, Lò Văn Y điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Durab loại Win 110, biển kiểm soát 27F6-4492 đến nhà ông Vũ Văn V, trú tại tổ 5, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Điện Biên hỏi mua ma túy sử dụng. Tại nhà ông V, Lò Văn Y đã trao đổi mua của ông V 02 viên Methamphetamine với giá 100.000đ. Sau khi mua được Y điều khiển xe về nhà, đi đến khu vực tổ 4, thị trấn Đ thì bị tổ công tác Công an thị trấn Đ kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm 02 viên nén màu hồng thu trong lòng bàn tay của Lò Văn Y nghi là ( Methamphetamine) và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Durab loại Win 110, biển kiểm soát 27F6-4492.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy ngày 05/3/2021 xác định: 02 viên nén màu hồng thu giữ của Lò Văn Y có khối lượng là 0,19 gam, trích 0,09 gam gửi đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 292/GĐ-PC09 ngày 11/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu viên nén màu hồng gửi giám định thu giữ của Lò Văn Y là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng vật chứng thu giữa của Lò Văn Y là 0,19 gam; Methamphetamine thuộc danh mục các chất ma túy quy định tại Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ; Không hoàn lại đối tượng giám định.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã điều tra làm rõ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Durab loại Win 110, biển kiểm soát 27F6-4492 là của anh Lò Văn T, sinh năm 1977, trú tại tổ dân cư số 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Điện Biên cho Lò Văn Y mượn, anh T không biết việc bị cáo Y sử dụng phạm tội nên đã ra Quyết định số 08/QĐ ngày 24/3/2021 trả chiếc xe trên cho anh T và cơ quan điều tra chưa đủ chứng cứ chứng minh ông Vũ Văn V, trú tại tổ 5, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Điện Biên có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lò Văn Y nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
Cáo trạng số: 26/CT-VKSĐBĐ ngày 12 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên truy tố Lò Văn Y về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lò Văn Y và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn Y từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,1 gam Methamphetamine còn lại sau giám định
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trang truy tố, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của bị cáo Lò Văn Y thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 5/3/2021; biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng; kết luận giám định số 292/GĐ-PC09 ngày 11/3/2021 và các tài liệu chứng cứ khác. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định: Ngày 5/3/2021, Lò Văn Y đã có hành vi mua 02 viên Methamphetamine có khối lượng 0,19 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân, chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Như vậy, xét thấy bị cáo Lò Văn Y là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ tác hại của chất ma túy gây ra đối với sức khỏe bản thân và biết được chính sách của Đảng và Nhà nước nghiêm cấm việc tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý vi phạm mua tàng trữ 0,19 gam Methamphetamine để sử dụng. Hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố. Điều luật quy định.
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”…
. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng:
Xét nhân thân của bị cáo thấy rằng bản thân bị cáo đã có gia đình riêng, là trụ cột trong gia đình nhưng không làm chỗ dựa cho vợ con mà đua đòi bạn bè dẫn tới nghiện chất ma túy. Năm 2015 từng bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 30 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy tuy đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để nỗ lực cai nghiện, trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội. Bản thân đang uống Methadone để thay thế nhưng chưa kiên quyết cai nghiện, chưa thoát khỏi sự cám dỗ của chất gây nghiện sau khi đi uống Methadone bị cáo lại tiếp tục mua Methamphetamine sử dụng nên phạm tội như ngày hôm nay. Bị cáo phải chịu trách nhiệm cho hành vi của mình đã gây ra.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt
Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên. Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Theo quy định của pháp luật bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên xét thấy hoàn cảnh gia đình của bị cáo phụ thuộc vào nông nghiệp cuộc sống khó khăn thuộc hộ nghèo, bản thân bị cáo nghiện chất ma túy. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về vật chứng vụ án:
Số Heroine còn lại sau giám định là 0,1 gam là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành. Do đó, cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Durab, loại Win 110, biển kiểm soát 27F6-4492 Lò Văn Y sử dụng phạm tội, đã điều tra làm rõ thuộc sở hữu của anh Lò Văn T, sinh năm 1977, trú tại tổ dân cư số 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Điện Biên anh T không biết Y sử dụng phạm tội nên cơ quan điều tra đã ra Quyết định số 08/QĐ ngày 24/3/2021 trả lại chiếc xe trên cho anh T là đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: bị cáo thuộc hộ nghèo theo Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 12/01/2021 của UBND thị trấn Đ, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
. Các vấn đề khác trong vụ án: Đối với ông Vũ Văn V, trú tại tổ 5, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Điện Biên theo lời khai của bị cáo Lò Văn Y đã bán ma túy cho Y nhưng quá trình điều tra chưa đủ chứng cứ để xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lò Văn Y ( tên gọi khác: không) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lò Văn Y 15 tháng tù, khấu trừ cho bị cáo 09 ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành tiếp 14 tháng 21 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/5/2021.
2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,1 gam Methamphetamine ( đã trừ giám định).Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 12/5/2021 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.
3. Căn cứ Điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn Y.
4. Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Lò Văn Y được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 22/6/2021).
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Nhà tạm giữ C.A huyện Đ; - Cơ quan CSĐT C.A huyện Đ; - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh Điện Biên; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - CC.THADS huyện Đ; - Lưu: Hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Nga |