vanban.org

Bản án 49/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 18/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/8/2020. Về biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LE VAN K- Tàng trữ trái phép chất ma tuy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2021/HS-ST
Ngày:18- 03-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Phước Hải

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Hường- Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 03 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2021/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 03 năm 2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn K, sinh năm 1998. Tại: Tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT: Số 18/11, đường ĐX 024, Tổ 15, Khu phố 3, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị H; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự; nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt ngày 18/8/2020 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

Người chứng kiến: Võ Hoàng A. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 18/8/2020, trong lúc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương thực hiện tuần tra theo Kế hoạch đợt tấn công trấn áp tội phạm trên địa bàn phường Phú Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương thì phát hiện Lê Văn K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng cam, biển số 61T6- 7377 lưu thông trên tuyến đường ĐX 002, đoạn qua tổ 4, khu phố 2, phường Phú Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương có biểu hiện nghi vấn nên lực lượng tuần tra yêu cầu K dừng xe để tiến hành kiểm tra. Qúa trình kiểm tra, K lấy từ trong túi quần trước bên trái ra 01(một) vỏ bánh màu trắng, bên ngoài có chữ KFC, bên trong có 01 (một) gói nylon miệng kéo dính có kích thước 02x03cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và K khai nhận chất tinh thể màu trắng là ma túy (Methamphetamine) do K mua của một đối tượng nam không rõ nhân thân, lai lịch tại khu vực Bến xe Miền Đông với giá 750.000 đồng để đem về sử dụng. Do đó, lực lượng Công an đưa K về trụ sở Công an phường Phú Mỹ để tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ số vật chứng, gồm: 01 gói nylon miệng kéo dính có kích thước 02 x03 cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (đã niêm phong); 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng cam, biển số 61T6-7377.

Qúa trình xác minh, điều tra Lê Văn K khai nhận: Vào khoảng 09 giờ ngày 18/8/2020, trong lúc ở nhà thì K nảy sinh ý định đi mua ma túy đá về sử dụng. Thực hiện ý định trên, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng cam, biển số 61T6-7377 đi đến khu vực Bến xe Miền Đông thuộc quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm mua ma túy. Khi đến nơi, K gặp một đối tượng nam (không rõ họ tên, địa chỉ) và hỏi mua ma túy đá với số tiền 750.000 đồng thì người nam này đồng ý; tiếp đó K đưa cho người nam này số tiền 750.000 đồng thì người nam đưa cho K 01(một) gói nylon chứa ma túy đá để trong 01(một) vỏ bánh màu trắng, bên ngoài có chữ KFC và K cất số ma túy trên vào túi quần trước bên trái rồi điều khiển xe mô tô biển số 61T6-7377 đi về nhà tại Bình Dương, khi K đang điều khiển xe mô tô biển số 61T6-7377 về đến đường ĐX 002, đoạn qua khu phố 2, phường Phú Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố Thủ Dầu Một kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.

Căn cứ kết luận giám định số 528/MT-PC09, ngày 26/8/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong một phong bì được niêm phong có chữ ký của người bị bắt Lê Văn K, người chứng kiến Võ Hoàng A, cán bộ niêm phong Trần T và hình dấu đỏ của Công an phường Phú Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương là ma túy, có khối lượng 2.5738 gam, loại Methamphetamine. Khối lượng hoàn lại sau giám định là 2.2925gam, loại Methamphetamine (đã được niêm phong). Đối với số ma túy hoàn lại sau giám định, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Dầu Một quyết định tịch thu, tiêu hủy.

Đối với đối tượng nam ở khu vực Bến xe Miền Đông là người đã bán ma túy đá cho Lê Văn K, do quá trình điều tra không xác định được họ tên và địa chỉ cư trú của người nam này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ và xử lý sau khi có đủ căn cứ.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng cam, biển số 61T6-7377, quá trình điều tra xác định: Xe mô tô trên không có số khung, số máy là VDP1P52FMH300121, được gắn biển số giả 61T6-7377. Căn cứ Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 03/11/2020 của Phòng PC08 Công an tỉnh Bình Dương xác định xe mô tô không có số khung, số máy là VDP1P52FMH300121 không tìm thấy giữ liệu tra cứu theo chỉ tiêu tìm kiếm. Căn cứ Phiếu tra cứu xe máy vật chứng ngày 04/11/2020 của Văn phòng Cơ quan cảnh sát điều tra PC 01 Công an tỉnh Bình Dương xác định xe mô tô không có số khung, số máy là VDP1P52FMH300121 không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Đối với chiếc xe trên, Lê Văn K khai mua của một người nam không rõ họ tên và địa chỉ cư trú, khi mua không làm giấy tờ mua bán và sang tên theo quy định. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Dầu Một quyết định tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với biển số xe 61T6-7377, quá trình điều tra xác định: Căn cứ Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ quan đường bộ ngày 21/8/2020 của Phòng Cảnh sát giao thông PC 08 Công an tỉnh Bình Dương xác định biển số 61T6-7377 là của xe mô tô hiệu NAGAKI, có số khung và số máy là 025720, do bà Lê Thị Hồng P, cư trú tại số 060/6 đường N, phường P, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe. Tuy nhiên, bà P đã bán nhà đi sinh sống tại nơi khác, hiện chính quyền địa phương không biết bà P sinh sống tại đâu. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Dầu Một quyết định tịch thu, tiêu hủy.

Cáo trạng số 48/CT-VKS-HS ngày 02/02/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Văn K và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn K mức hình phạt từ 02 (hai) năm 03(ba) tháng đến 02(hai) năm 09 (chín) tháng tù.

Về biện pháp tư pháp:

- 01 (một) bì thư niêm phong có chữ ký của Lê Văn K, chữ ký cán bộ niêm phong Trần T, hình dấu tròn đỏ Công an phường Phú Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong chứa ma túy Methamphetamine trọng lượng sau giám định 2.2925gam theo kết luận giám định số 528/MT-PC09 ngày 26/08/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương;

- 01 (một) biển số 61T6- 7377.

Là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

- 01(một) xe mô tô hai bánh đã qua sử dụng, nhãn hiệu Honda Wave màu trắng cam, số khung không có, số máy VDP1P52FMH300121 theo kết luận giám định số 737/SKSM-PC09 ngày 06/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương không có giấy chứng nhận đăng ký xe, không xác định được chủ sở hữu nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Tại phần tranh luận, bị cáo Lê Văn K không tranh luận với Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và mức hình phạt đã đề nghị.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung bị can, biên bản niêm phong, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Với hành vi tàng trữ trái phép 2.5738 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng mà bị cáo Lê Văn K thực hiện đã hội đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” trọng lượng ma túy bị cáo tàng trữ được định khung tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong mọi tầng lớp. Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn này chưa được đẩy lùi chính là có sự tiếp tay của bị cáo. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Căn cứ với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ vào nhân thân bị cáo, xét mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về biện pháp tư pháp:

- 01 (một) bì thư niêm phong có chữ ký của Lê Văn K, chữ ký cán bộ niêm phong Trần T, hình dấu tròn đỏ Công an phường Phú Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong chứa ma túy Methamphetamine trọng lượng sau giám định 2.2925gam theo kết luận giám định số 528/MT-PC09 ngày 26/08/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.

Là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự.

- 01 (một) biển số 61T6- 7377, quá trình điều tra xác định biển số 61T6-7377 là của xe mô tô hiệu NAGAKI, có số khung và số máy là 025720, do bà Lê Thị Hồng P, cư trú tại số 060/6 đường Nguyễn Tri P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe. Tuy nhiên, bà P đã không còn sinh sống tại địa phương và không xác định được nơi cư trú hiện tại. Do đó Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) xe mô tô hai bánh đã qua sử dụng, nhãn hiệu Honda Wave màu trắng cam, số khung không có, số máy VDP1P52FMH300121 theo kết luận giám định số 737/SKSM-PC09 ngày 06/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương không có giấy chứng nhận đăng ký xe, quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã đăng thông báo tìm kiếm chủ sở hữu, nhưng không xác định được chủ sở hữu. Vì vậy nên giao cho Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 106, 136, 260, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/8/2020.

2. Về biện pháp tư pháp:

2.1. Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) bì thư niêm phong có chữ ký của Lê Văn K, chữ ký cán bộ niêm phong Trần T, hình dấu tròn đỏ Công an phường Phú Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong chứa ma túy Methamphetamine trọng lượng sau giám định 2.2925gam theo kết luận giám định số 528/MT-PC09 ngày 26/08/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương;

- 01 (một) biển số 61T6- 7377.

2.2. Giao cho Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01(một) xe mô tô hai bánh đã qua sử dụng, nhãn hiệu Honda Wave màu trắng cam, số khung không có, số máy VDP1P52FMH300121 theo kết luận giám định số 737/SKSM-PC09 ngày 06/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 066.21 ngày 01/02/2021 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu Một).

3.Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phước Hải Nguyễn Thị Hồng Thanh Nguyễn Thị Minh Nga

Cỡ chữ