vanban.org

Bản án 49/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 12, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:49/2021/HS-ST
Ngày: 06/4/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Lê

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Văn Tốt

Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Khôi – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Đô – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, số 277/50 Khu phố 3, phường Tân Thới Hiệp, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 219/2020/HSST ngày 07 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L; sinh năm 1999, tại K; Hộ khẩu thường trú: xã M, huyện H, tỉnh K; nơi cư trú: phường D, thành phố B, tỉnh N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Nguyễn Văn P và bà Trương Thị C; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Đinh Thị M, sinh năm 2002; Hộ khẩu thường trú: Ấp Bàu Nhàn, xã Hồ Thị Kỉ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau (chết);

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Ông Đinh Văn C, sinh năm: 1976 và bà Hồ Ánh P, sinh năm: 1977 (cha, mẹ ruột bị hại); Cùng hộ khẩu thường trú: xã H, huyện T, tỉnh M (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 50 phút, ngày 11 tháng 01 năm 2020, Nguyễn Văn L có giấy phép lái xe mô tô hạng Al điều khiển xe mô tô biển số 68D1-376.79, chở vợ chưa đăng ký kết hôn là Đinh Thị M sinh ngày 24/01/2002 ngồi phía sau lưu thông trên đường Quốc lộ 1, hướng từ giao lộ Quốc lộ 1 + APĐ12 về hướng cầu Bình Phước 2. Khi đến khu vực gần nhà số 99, đường Quốc lộ 1, Khu phố 5, phường An Phú Đông, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn L không kiểm soát được tốc độ và tay lái nên đã để phương tiện va chạm vào đầu giải phân cách cố định bằng bê tông phân chia làn xe ô tô và làn xe hỗn hợp, tự gây ra tai nạn.

Hậu quả tai nạn: Đinh Thị M tử vong tại hiện trường, Nguyễn Văn L bị thương nhẹ không nằm viện, xe mô tô biển số 68D1-376.79 bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Khu vực xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng của đường Quốc lộ 1 (khu vực gần nhà số 99, khu phố 5, phường An Phú Đông, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh) được tráng nhựa bằng phẳng, có dải phân cách bê tông ở giữa rộng 03m00 phân chia hai chiều xe lưu thông. Chiều lưu thông hướng từ giao lộ Quốc lộ 1 + APĐ12 về hướng cầu vượt Bình Phước 2 có bề rộng mặt đường là 16m30, được chia làm 04 làn xe; làn 01 và làn 02 là làn xe hỗn hợp, làn 01 rộng 03m50 sát lề phải đường, làn 02 rộng 03m70 liền kề bên trái làn 01 và ngăn cách với làn 01 bằng vạch sơn trắng không liên tục, làn 03 rộng 03m50 liền kề bên trái làn 02 và ngăn cách với làn 02 bằng dải phân cách bê tông rộng 02m00, làn 04 rộng 03m60 liền kề bên trái làn 03 và ngăn cách với làn 03 bằng vạch sơn trắng không liên tục.

- Tại đầu dải phân cách bê tông phân chia làn xe ôtô với làn xe hỗn hợp ở khu vực xảy ra tai nạn có lắp đặt biển báo phân làn đường, trên làn xe ôtô có lắp đặt biển báo hiệu giao thông đường bộ số 11la (cấm xe máy) và 11lb (cấm xe ba bánh loại có động cơ), trên làn xe hỗn hợp có lắp đặt biển báo hiệu giao thông đường bộ số 106a (cấm xe ôtô tải, thời gian từ 05 giờ 00 phút đến 20 giờ 00 phút), trên đường không có chướng ngại vật và không hạn chế tầm nhìn.

- Căn cứ Kết luận giám định pháp y tử thi số 184-20/KLGĐ-PY ngày 06/02/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh, xác định:

+ Đinh Thị M chết do đa chấn thương.

+ Trong máu không tìm thấy cồn và ma túy.

+ Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương ở vùng đầu do tiếp xúc với vật tày gây ra, là tổn thương chấn thương sọ não và chấn thương hàm mặt theo cơ chế hỗn hợp (cơ chế tác động trực tiếp và đầu di động) gây ra. Các tổn thương còn lại trên tử thi do vật tày tác động trực tiếp gây ra.

- Dấu vết trên xe môtô biển số 68D1 - 376.79 và dấu vết trên dải phân cách:

+ Lốp trước xe môtô biển số 68D1 - 376.79 bị xây xát cao su; ống giảm xóc trước bị xây xát, bám dính tạp chất màu đen; chụp kim loại để lắp gương chiếu hậu bên phải bị trầy xước kim loại, bám dính bụi bê tông; bửng chắn gió bên phải bị trầy xước, bám dính tạp chất màu xám; chụp nhựa bên phải thân xe bị trầy xước, bám dính tạp chất màu đen và màu xám.

+ Đầu dải phân cách phân chia giữa làn xe ôtô và làn xe hỗn hợp có vết vỡ bê tông, trượt xước miếng nhựa phản quang lắp ở đầu dải phân cách.

- Kết quả kiểm tra bằng máy đo nồng độ cồn trong hơi thở đối với lái xe Nguyễn Văn L sau khi xảy ra tai nạn là 0,00mg/lít. Kết quả xét nghiệm ma túy và nồng độ cồn trong máu đối với lái xe Nguyễn Văn L tại Bệnh viện Quận 12 ghi nhận lái xe L âm tính với các chất ma túy (Morphine, Amphetamine, Methamphetamine, Marijuana), nồng độ cồn trong máu là 05mg/dl (trị số thường là 0 - 25mg/dl).

Về trách nhiệm dân sự: Ông Đinh Văn C cha ruột của nạn nhân Đinh Thị M (được vợ là Hồ Ánh P ủy quyền giải quyết) đã tự nguyện tự khắc phục hậu quả, không yêu cầu Nguyễn Văn L phải bồi thường hay hỗ trợ bất cứ khoản tiền nào; cam kết không thắc mắc, khiếu nại bất cứ điều gì.

Vật chứng thu giữ:

Xe mô tô biển số 68D1 - 376.79

Tại Cáo trạng số 166/CTr-VKS ngày 30 tháng 7 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 vẫn giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn L về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng; về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu, nên không yêu cầu giải quyết.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình và nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 12, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Vào khoảng 21 giờ 50 phút, ngày 11 tháng 01 năm 2020, Nguyễn Văn L có giấy phép lái xe mô tô hạng Al điều khiển xe mô tô biển số 68D1-376.79, chở vợ chưa đăng ký kết hôn là Đinh Thị M ngồi sau xe lưu thông do không kiểm soát được tốc độ và tay lái, thiếu tập trung, quan sát nên để phương tiện va chạm vào dải phân cách phân chia làn xe ôtô và làn xe hỗn hợp, tự gây ra tai nạn làm Đinh Thị M tử vong. Hành vi của Nguyễn Văn L đã vi phạm điểm e khoản 3 Điều 30 Luật giao thông đường bộ. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, tang vật thu giữ, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu khác mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Như vậy, cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là vô ý nhưng nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự, an toàn trên lĩnh vực giao thông đường bộ, gây hoang mang lo lắng cho người tham gia giao thông. Để đấu tranh phòng chống tội phạm trên lĩnh vực giao thông, góp phần bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người tham gia giao thông, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường và có đơn xin bãi nại, miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, người bị hại là vợ sắp cưới của bị cáo, việc vợ sắp cưới của bị cáo chết đi cũng là một tổn thất tinh thần to lớn đối với bị cáo, đại diện gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách nhất định để bị cáo có cơ hội tiếp tục tự cải tạo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự:

Gia đình bị hại đã tự nguyện tự khắc phục hậu quả, không yêu cầu Nguyễn Văn L phải bồi thường hay hỗ trợ bất cứ khoản tiền nào, cam kết không thắc mắc, khiếu nại bất cứ điều gì về vụ tai nạn giao thông nêu trên và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

Xử lý vật chứng:

Xe mô tô biển số 68D1 - 376.79 Cơ quan CSĐT Công an Quận 12, đã xác minh và trả lại cho chủ sở hữu là có cơ sở.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; đại diện gia đình bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo có ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về án phí:

Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Áp dụng các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đại diện gia đình bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Chủ tọa đã giải thích chế định án treo)

Cỡ chữ