vanban.org

Bản án 49/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau Tuyên án 25/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 02 (Hai) năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, ngày 26/7/2021. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2021/HS-ST
Ngày 25 tháng 10 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Việt Thắng

2. Ông Huỳnh Văn Năm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường - Là Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Ông Dương Việt Khái - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2021/TLST-HS, ngày 15 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2021 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn N, sinh ngày 06/3/1994; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: ấp M, xã K, huyện T, tỉnh C .; Nghề nghiệp: Làm biển; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1966 (còn sống); Con bà Lê Thị Đ, sinh năm 1967 (còn sống); vợ: chưa; anh chị em ruột có 04 người (lớn nhất sinh năm 1991 nhỏ nhất sinh năm 2002); Tiền sự: Không; Tiền án: 01 lần. Ngày 19/7/2017 bị Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/7/2020, án phí dân sự và trách nhiệm dân sự chưa chấp hành xong; Bắt giữ ngày 26/7/2021, sau đó khởi tố chuyển tạm giam đến nay.

Bị cáo đang tạm giam có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn N là đối tượng có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” chưa được xóa án tích. Khoảng 23 giờ ngày 25/7/2021, Phong (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) điện thoại cho Nhựt hỏi có mua ma túy không? Nhựt trả lời đồng ý mua ma túy với số tiền 1.000.000 đồng. Phong hẹn Nhựt giao ma túy tại cầu Cơi 5, thuộc ấp 2, xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Nhựt điều khiển xe máy hiệu Wave S, biển kiểm soát 69N1-210.65 từ nhà ở ấp M, xã K, huyện T, tỉnh C . đến điểm hẹn gặp Phong, Phong đưa ma túy cho Nhựt rồi lấy 1.000.000 đồng. Nhựt cầm bịt ma túy trong lòng bàn tay rồi điều kiển xe về nhà. Đến khoảng 00 giờ 45 phút khi đến đoạn lộ gần Co Xáng thuộc ấp 2, xã Trần Hợi thì bị Tổ tuần tra kiểm soát Công an huyện Trần Văn Thời kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang. Qua làm việc Nhựt thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: 01 bịch nilon bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 xe mô tô hiệu Wave S, biển số kiểm soát 69N1-210.65; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen loại bàn phím, sim số 0877.105.172.

*/ Kết luận giám định pháp y về hóa chất số 173/KL-GĐH-PC09 ngày 01/8/2021 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận: Mẫu tinh thể thu giữ được niêm phong ký hiệu PS3 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,1432gam, loại Methamphetamine.

*/ Tại cáo trạng số: 65/CT-VKS ngày 13/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời truy tố Nguyễn Văn N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chấp ma túy” là đúng, không oan sai; các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là do bị cáo tự nguyện khai; không ai ép cung, móm cung gì đối với bị cáo.

Tại phiên tòa ý kiến của Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng số: 65/CT-VKS ngày 13 tháng 9 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, phạt bị cáo Nhựt từ 02 năm đến 03 năm tù; Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

Tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì được niêm phong số 173/GĐH-PC09 ngày 01/8/2021 của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh Cà Mau.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen loại bàn phím đã qua sử dụng, có gắn sim số 0877.105.172

Tạm giao Cơ quan cảnh sát điều trả Công an huyện Trần Văn Thời: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave S, biển số kiểm soát 69N1-210.65. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu tên Nguyễn Văn Duy, sinh năm 1996 (em ruột của bị cáo). Do hiện Duy đang đi làm công nhân ở tỉnh Bình Dương nên chưa làm việc được.

Bị cáo không tham gia tranh luận chỉ nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trần Văn Thời, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như sau: Lúc 00 giờ 45 phút ngày 26/7/2021, Tổ tuần tra Công an huyện Trần Văn Thời bắt quả tang đối tượng Nguyễn Văn N đang tàng trữ trái phép chất ma túy trong bịch nilon trên đoạn lộ Co Xáng, thuộc ấp 2, xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời. Lực lượng tiến hành khám xét thu giữ: 01 bịch nilon bên trong có chứa ma túy đá có tổng khối lượng 2,1432gam, loại Methamphetamine. Ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen loại bàn phím, đã qua sử dụng sim số 0877.105.172; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave S, biển số kiểm soát 69N1-210.65.

Bị cáo Nhựt khai số ma túy trên bị cáo có được là do bị cáo mua của một người tên Phong (không xác định được lai lịch) cất giữ mục đích để bị cáo sử dụng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ số ma túy mà bị cáo cất giữ khi bị bắt quả tang.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, cùng các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Theo kết luận giám định pháp y về hóa số 173 ngày 01/8/2021 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận: Tổng khối lượng 2,1432gam, loại Methamphetamine.

Như vậy, bịch nilon màu trắng bên trong có chứa ma túy đá là của bị cáo cất giữ và chất ma túy này bị Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ với mọi hình thức. Hành vi tàng trữ ma túy để nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Nhựt đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị cáo thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện mục đích tàng trữ để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bản thân của bị cáo là người nghiện ma túy. Hành vi đó còn làm phát sinh thêm một số tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” mới chấp hành xong hình phạt ngày 30/7/2020, chưa được xóa án tích. Bản thân bị cáo không biết nhìn nhận, có ý thức sửa chữa sai lầm để hoàn lương thành người công dân tốt mà bị cáo lại tiếp tục phạm tội và lần phạm tội này khi chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đảm bảo tính răn đe và giáo dục phòng ngừa chung cho tòa xã hội.

Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử lý vật chứng: 01 Phong bì được niêm phong số 173/GĐH-PC09 ngày 01/8/2021 của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh Cà Mau ký hiệu PS3, mã số PS3 2031210 bên trong chứa 1,9921gam Methamphetamine, hoàn lại sau giám định. Xét thấy, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động Nokia màu đen, loại bàn phím đã qua sử dụng, sim số 0877.105.172. Điện thoại này bị cáo dùng vào mục đích để mua ma túy nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Wave S, biển số kiểm soát 69N1-210.65 là xe do bị cáo sử dụng. Quá trình điều tra xác định xe mô tô này của Nguyễn Văn Duy, sinh năm 1996 (em ruột của bị cáo). Do hiện nay Duy đang làm công nhân ở tỉnh Bình Dương (vùng dịch Covid-19) nên chưa làm việc được. Do đó, tạm giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trần Văn Thời xử lý theo quy định nếu có căn cứ trả lại cho chủ sở hữu.

Đối với người tên Phong, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra tách ra tiếp tục điều tra, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với hành vi sử dụng trá phép chất ma túy của bị cáo, Công an huyện Trần Văn Thời ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 02 (Hai) năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, ngày 26/7/2021.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên bố tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì được niêm phong số 173/GĐH-PC09 ngày 01/8/2021 của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh Cà Mau ký hiệu PS3, mã số PS3 2031210 bên trong chứa 1,9921gam Methamphetamine, hoàn lại sau giám định.

Tuyên bố tịch thu sung công qũy Nhà nước: 01 điện thoại di động Nokia màu đen, loại bàn phím đã qua sử dụng, sim số 0877.105172.

Giao cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trần Văn Thời xe máy hiệu Wave S, biển số kiểm soát 69N1-210.65 xử lý theo quy định nếu có căn cứ trả lại cho chủ sở hữu.

(Các vật chứng trên, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời đang quản lý theo biên bản giao nhận ngày 15/9/2021).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụn g Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp số tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (chưa nộp).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án này là sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

Cỡ chữ