- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thế T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thế T phạm tội đánh bạc.
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2021/HS-ST Ngày 30-09-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Luân
Ông Tạ Quang Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Sinh - Kiểm sát viên.
Ngày 30/09/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2021/TLST-HS ngày 13/9/2021 đối với bị cáo:
Hoàng Thế T, sinh năm 1991, tại huyện H, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn K, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Bùi Thị H và 02 con (con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 55/QĐ/XPVPHC ngày 11/10/2010 của Công an huyện Hoa Lư xử phạt bị cáo 500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích (chấp hành xong ngày 11/10/2010). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Người làm chứng: Anh Lê Đức A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu tháng 12 năm 2020, Hoàng Thế T nói với Lê Đức A, trú tại thôn K, xã N, huyện H xem có ai mua số lô, số đề thì ghi và gửi cho T qua tin nhắn điện thoại. T và Đức A thống nhất việc mua bán số lô, số đề như sau: Các số lô, số đề gồm số có hai chữ số bất kỳ từ 00 đến 99. Số lô Ninh Bình được tính theo điểm. Mỗi điểm trị giá 20.000 đồng. Các số lô, đề đã bán được so với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng cùng ngày để tính toán trúng thưởng: số đề so với hai số cuối cùng của giải đặc biệt, nếu trùng sẽ trả thưởng gấp 80 lần số tiền đã bán cho người mua; đối với các số lô Ninh Bình được so với hai số cuối của các giải, nếu trúng thưởng cứ một điểm lô thì trả 70.000 đồng, nếu số đó xuất hiện nhiều lần thì được nhân đôi số tiền trúng thưởng. Mỗi điểm lô Ninh Bình, T sẽ cắt lại tiền công cho Đức A là 500 đồng/điểm. Khi người mua trúng thưởng thì T sẽ đưa tiền trúng thưởng để Đức A thanh toán cho người mua.
Hồi 17 giờ 49 phút, ngày 09/12/2020, Hoàng Hồng Th, trú tại: thôn K, xã N, huyện H dùng điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, lắp sim số 0967.049.253 nhắn tin đến số thuê bao 0869.799.120 của Lê Đức A mua các số lô Ninh Bình là 10 và 30, mỗi số 50 điểm với tổng số tiền là 2.000.000 đồng. Hồi 17 giờ, 56 phút, sau khi xác nhận đồng ý bán số lô cho Th thì Đức A sử dụng điện thoại nhắn tin đến số thuê bao 0976.694.432 của T với nội dung “Lo Nb 10 - 30 mỗi con 50 đi”. T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1205, lắp sim có số thuê bao 0976.694.432 nhắn tin cho Đức A nội dung “ok a” để xác nhận đồng ý với tổng số tiền là 1.950.000 đồng.
Đối chiếu kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày thì Th trúng thưởng số lô Ninh Bình 10 và 30, mỗi số xuất hiện hai lần nên tổng số tiền trúng thưởng là 14.000.000 đồng. Sau khi đối trừ số tiền Đức A chuyển số lô là 1.950.000 đồng, T đã thanh toán cho Đức A số tiền 12.050.000 đồng. Đức A trừ số tiền Th mua số lô là 2.000.000 đồng sau đó đã thanh toán cho Th số tiền là 12.000.000 đồng.
Ngày 11/12/2020, Công an huyện Hoa Lư kiểm tra hành chính đối với Đức A đã phát hiện ra hành vi mua bán số lô, đề giữa Đức A và Th, thu giữ của Đức A 01 điện thoại di động Iphone lắp sim có số thuê bao 0869.799.120, thu giữ của Th một điện thoại di động HUAWEI lắp sim có số thuê bao 0967.049.253 và số 0899.845.442. Quá trình điều tra đối với Đức A và Th, cơ quan điều tra đã triệu tập T nhưng T không có mặt ở địa phương. Ngày 10/6/2021, cơ quan điều tra tiếp tục triệu tập T làm việc. Tại cơ quan điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện nêu trên. Chiếc điện thoại NOKIA 1205 lắp sim có số thuê bao 0976.694.432, T đã đánh mất nên không thu giữ được.
Hành vi mua bán số lô, đề của Th và Đức A với số tiền là 16.000.000 đồng đã bị Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư xét xử. Tại bản án hình sự số 23/2021/HSST ngày 23/4/2021, Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư đã xử phạt Lê Đức A 18 tháng cải tạo không giam giữ và Hoàng Hồng Th 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc đồng thời tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước các tài sản, vật chứng liên quan gồm: 02 điện thoại di động thu giữ của Đức A và Th, số tiền 2.000.000 đồng do Đức A nộp và truy thu số tiền 14.000.000 đồng của Th. Lê Đức A không có yêu cầu, đề nghị gì đối với T về số tiền đã nộp bị sung quỹ nhà nước.
Bản Cáo trạng số 47/CT-VKSHL ngày 13/9/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư truy tố bị cáo về tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự (BLHS). Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 1,3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của BLHS xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo không giam giữ từ 5% đến 10%, phạt bổ sung từ 10 đến 15 triệu đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi nêu trên, không tranh luận với luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoa Lư, điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Hoàng Thế T đã thành niên, nhận thức rõ việc mua bán số lô, số đề là hành vi đánh bạc trái phép, vi phạm pháp luật. Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện ngày 09/12/2020, tại thôn K, xã N, huyện H, bị cáo đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức mua bán số lô, số đề với Đức A với tổng số tiền là 15.950.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội đánh bạc. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, 3 Điều 321 của BLHS.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Lần phạm tội này, bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã khai nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn, hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị cáo có nhân thân xấu do trước đây bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích.
Về áp dụng hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Việc đánh bạc còn là nguyên nhân của nhiều tệ nạn xã hội khác do đó cần phải xử lý bị cáo bằng hình phạt tương xứng để giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được phân tích nêu trên và xét thấy bị cáo là lao động tự do, có thu nhập nên cần áp dụng hình cải tạo không giam giữ là hình phạt chính và phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp: Số tiền liên quan đến hành vi đánh bạc của bị cáo, Đức A và Th cũng như các vật chứng thu giữ được đã được giải quyết tại bản án số 23/2021/HSST ngày 23/4/20211 của Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư. Anh Đức A không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về các vấn đề khác: Hành vi mua bán số lô, số đề của Đức A và Th ngày 9/12/2020 đã được Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư xét xử nên HĐXX không xem xét, giải quyết. Ngày 10/12/2020, sau khi nhận tin nhắn của Th về việc hỏi mua các số lô 04, 05 mỗi số 30 điểm, các số đề 45, 54 mỗi số 150.000 đồng thì Đức A đã chuyển tin nhắn cho T. Đối chiếu kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng trong ngày thì Th không trúng thưởng. Tổng số tiền lô, đề mà Đức A đã bán cho Th là 1.500.000 đồng. Đức A chuyển cho T là 1.470.000 đồng. Hành vi này của Th, Đức A, T không cấu thành tội phạm nên Công an huyện Hoa Lư đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Th, Đức A và T là đúng quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thế T phạm tội đánh bạc.
Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Hoàng Thế T 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Hoàng Thế T cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
Khấu trừ 5% thu nhập hàng tháng của bị cáo Hoàng Thế T trong thời gian cải tạo không giam giữ để sung quỹ Nhà nước.
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Hoàng Thế T 10 (mười) triệu đồng để sung quỹ Nhà nước.
2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND huyện Hoa Lư; -VKSND tỉnh Ninh Bình; - Công an huyện Hoa Lư; - THADS huyện Hoa Lư; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Thị Kim Oanh |