vanban.org

Bản án 49/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 18/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị H 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành bản án này. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng để nộp ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị H 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2021/HS-ST
Ngày: 18-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lê Văn Dương.

2/ Bà Nguyễn Thị Thúy Oanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2021/TLST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2021, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị H; giới tính: Nữ; sinh năm 1971; tại tỉnh Long An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: C1/29/1 ấp 3, xã Bình L, huyện Bình Ch, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Như trên; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; họ tên cha: Nguyễn Văn N; họ tên mẹ: Đinh Thị R; cị cáo có chồng là Huỳnh Văn N1, sinh năm 1968 (đã chết) có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1990 nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền sự: Ngày 23/8/2020, bị can bị Công an xã Bình L, huyện Bình Ch ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “Đánh bạc” với số tiền 1.500.000 đồng, đã đóng phạt ngày 24/8/2020; tiền án: Không.

Bị cáo tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1982 – Có mặt.

Trú tại: C2/61 ấp 3, xã Bình L, huyện Bình Ch, thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Bà Nguyễn Thị Ánh T, sinh năm 1983 – Có mặt.

Trú tại: C2/63 ấp 3, xã Bình L, huyện Bình Ch, thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1979 – Có mặt.

Trú tại: Phòng số 6, nhà trọ C2/74 ấp 3, xã Bình L, huyện Bình Ch, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 ngày 01/9/2020, Nguyễn Thị H ngồi uống nước với Nguyễn Thị O, Nguyễn Thị Ánh T và Nguyễn Thị Nh, sau đó cả bốn góp tiền mua 10 bộ bài tứ sắc (loại 112 lá) đem về nhà T tại địa chỉ C2/63 ấp 3, xã Bình L, huyện Bình Ch để đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền, mỗi ván từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng theo quy luật chơi người chia bài được 21 lá, 03 tụ còn lại mỗi tụ 20 lá, người chia bài được đánh trước, người nào tới trước thì thắng 03 người còn lại, nếu thắng trơn thì ăn mỗi người 10.000 đồng, nếu thắng quan thì ăn mỗi người 20.000 đồng. H đem theo 100.000 đồng, sử dụng vào mục đích đánh bạc, thắng được 210.000 đồng. Khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, khi cả bốn người đang chơi bài được khoảng hơn 20 ván thì bị Công an xã Bình L kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc 120.000 đồng. Vụ việc trên được Công an xã Bình L lập hồ sơ ban đầu, chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh để điều tra xử lý (BL 31-45). Quá trình điều tra, xác định hành vi của các bị cáo như sau:

1/ Bị cáo Nguyễn Thị H khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, H đem theo 100.000 đồng, sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Khi Công an đến kiểm tra, H thắng 210.000 đồng, bị tạm giữ 310.000 đồng.

2/ Nguyễn Thị O khai nhận: O mang theo 200.000 đồng, sử dụng vào mục đích đánh bạc, khi Công an đến kiểm tra, O thua 30.000 đồng. Bị tạm giữ 170.000 đồng.

3/ Nguyễn Thị Ánh T khai nhận: T đem theo 200.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, thua 80.000 đồng, khi Công an kiểm tra, T bị tạm giữ 120.000 đồng để trên chiếu bạc.

4/ Nguyễn Thị Nh khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, có đem theo 1.020.000 đồng, trong đó 100.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Khi Công an kiểm tra, Nh thua 100.000 đồng. Số tiền 920.000 đồng không sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Căn cứ Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân Tối cao, số tiền dùng để đánh bạc trong ngày 01/9/2020 của Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị O, Nguyễn Thị Ánh T và Nguyễn Thị Nh là 600.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 02 tháng 02 năm 2021, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s và điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H với mức án từ 06 đến 09 tháng tù. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền thu giữ trên chiếu bạc, tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tứ sắc.

2. Bị cáo Nguyễn Thị H khai nhận hành vi như bản Cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

3. Những người có quyền lợi nghĩa vu liên quan: Không ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Xét thấy lời khai tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra, vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Thị H có hành vi đánh bạc cùng các con bạc khác vào ngày 01/9/2020 tại địa chỉ C2/63 ấp 3, xã Bình L, huyện Bình Ch, Tp. Hồ Chí Minh thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang. Mặc dù, số tiền dùng để đánh bạc của bị cáo H dưới 5.000.000 đồng nhưng bản thân bị cáo H đã có 01 tiền sự về hành vi “Đánh bạc” nên bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc”.

- Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Khi thực hiện hành vi đánh bạc bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng vì vụ lợi, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi đánh bạc. Số tiền bị cáo và các đương sự khác dùng để đánh bạc là 600.000 đồng. Tuy nhiên, Ngày 23/8/2020, bị cáo đã bị Công an xã Bình L, huyện Bình Ch ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “Đánh bạc” với số tiền 1.500.000 đồng. Nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó cần đưa bị cáo ra xét xử và áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Bên cạnh đó cần buộc bị cáo nộp phạt bổ sung số tiền theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tuy nhiên, xét thấy tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- Đối Nguyễn Thị O, Nguyễn Thị Ánh T và Nguyễn Thị Nh có hành vi đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, nhưng chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Công an xã Bình Lợi đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi người số tiền 1.500.000 đồng theo Nghị định số 167/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, cả ba đã nộp phạt vào ngày 02/10/2020. Hội đồng xét xử không xét.

- Vật chứng của vụ án: Thu giữ trên chiếu bạc:

- 02 bộ bài tứ sắc; Xét đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Số tiền 310.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị H và 120.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị Ánh T trên chiếu bạc; Xét đây là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Đối với số tiền 920.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị Nh không liên quan đến hành vi đánh bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã giao trả cho chủ sở hữu. Hội đồng xét xử không xét.

- Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, khung hình phạt đối với bị cáo cũng như xử lý vật chứng vụ án.

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào điểm a khoản 2, Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thị H 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành bản án này.

2. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng để nộp ngân sách nhà nước.

3. Về vật chứng của vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tứ sắc;

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền Số tiền 310.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị H và 120.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị Ánh T trên chiếu bạc.

(Các vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng lúc 15h00 ngày 05/02/2021 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh và Theo Giấy nộp tiền vào Kho bạc nhà nước huyện Bình Chánh ngày 19/01/2021 của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Bình Chánh).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ