- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lương Hiệp"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 49/2021/HNGĐ-ST Ngày 10/9/2021 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thiện; Ông Nguyễn Quốc Sửu.
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Xuân Trường – Thẩm tra viên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 89/2021/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2021 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 109/2021/QĐST – HNGĐ ngày 30/8/2021 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị L - sinh năm 1994 (có mặt)
Nơi ĐKHKTT: Đồi Ch (nay là Thúy C), xã Ngọc V, huyện Tân Y, tỉnh Bắc G.
Nơi ở hiện nay: Thôn Ngò, xã Song Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
* Bị đơn: Anh Đỗ Bá H - sinh năm 1993
(vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn Đồi Ch (nay là Thúy C), xã Ngọc V, huyện Tân Y, tỉnh Bắc G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L trình bày:
Chị và anh H kết hôn năm 2013 trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện rồi đăng ký kết hôn tại UBND xã Ngọc V. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến 2018 năm thì phát sinh mẫu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H chơi bời cờ bạc trên mạng xã hội, không lo làm ăn kinh tế, chị đã nhiều lần khuyên bảo nhiều lần nhưng anh H không thay đổi dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau làm mâu thuẫn càng thêm trầm trọng. Đến đầu năm 2019 mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng, không thể hàn gắn được chị cùng 02 con đã về nhà bố mẹ đẻ chị ở thôn Ngò, Song Vân sinh sống từ đó, vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm gì nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và xin được ly hôn anh Đỗ Bá H.
- Về nuôi dưỡng con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Đỗ Thị Cẩm T, sinh ngày 30/01/2014 và Đỗ Gia H, sinh ngày 26/5/2015 hiện nay 02 con đang ở với chị. Khi ly hôn chị xin được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, quyền và nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp, ruộng canh tác: Chị L không yêu cầu xem xét, giải quyết.
Tại phiên toà, chị L giữ nguyên yêu cầu.
Đối với anh Đỗ Bá H, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh H nhưng anh H không đến Tòa án làm việc tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và không thu thập được lời khai của anh H.
Tại phiên toà: Anh Đỗ Bá H vắng mặt.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đảm bảo theo quy định.
Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Đỗ Bá H. Về con chung giao cho chị L nuôi dưỡng cả 02 con chung là Đỗ Thị Cẩm T, sinh ngày 30/01/2014 và Đỗ Gia H, sinh ngày 26/5/2015. Vấn đề cấp dưỡng chị L không yêu cầu nên không xem xét, chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết, thủ tục tố tụng: Chị L khởi kiện yêu cầu ly hôn và giải quyết về việc nuôi dưỡng con chung với anh H có nơi cư ĐKHK và nơi ở tại thôn Đồi Ch (nay là Thúy C), xã Ngọc V, huyện Tân Y, tỉnh Bắc G. Tòa án nhân dân huyện Tân Yên đã thụ lý giải vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình là đúng pháp luật, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành nên đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.
Tại phiên tòa, anh H vắng mặt nhưng đã được triệu tập lần thứ hai mà anh H vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh H kết hôn ngày 27/3/2013 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ngọc V, huyện Tân Yên nên hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị đã có thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2018, vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H chơi bời, không quan tâm vợ, con, không lo làm ăn kinh tế gia đình. Chị L, anh H mâu thuẫn trầm trọng vào đầu năm 2019 dẫn đến chị L cùng 02 con chung đã về ở tại nhà bố mẹ đẻ ở thôn Ngò, Song Vân, vợ chồng anh chị sống ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm gì nhau nữa. Nay chị L xác định không còn tình cảm với anh H nên đề nghị xin được ly hôn anh H. Hội đồng xét xử thấy, mâu thuẫn giữa chị L và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần xử cho chị L ly hôn anh H là phù hợp.
[3] Về nuôi dưỡng con chung: Vợ chồng chị L, anh H có 02 con chung là Đỗ Thị Cẩm T, sinh ngày 30/01/2014 và Đỗ Gia H, sinh ngày 26/5/2015. HĐXX thấy hiện nay 02 con đang ở với chị L nên việc nuôi dưỡng con chung chủ yếu do chị L nuôi dưỡng vẫn đảm bảo cuộc sống ổn định của các con phát triển bình thường, anh H thường xuyên vắng nhà không đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con phát triển nên cần giao cả 02 con chung cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng để ổn định cuộc sống, chăm sóc, giáo dục các con phát triển. Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình, HĐXX giao cả 02 con chung cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là đảm bảo sự ổn định cuộc sống, quyền lợi mọi mặt của các con chung là phù hợp.
- Vê yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét.
Sau khi ly hôn, anh Đỗ Bá H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh H thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Chị L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Đỗ Bá H.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là Đỗ Thị Cẩm T, sinh ngày 30/01/2014 và Đỗ Gia H, sinh ngày 26/5/2015.
Sau khi ly hôn anh Đỗ Bá H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh H thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0000265 ngày 13 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên. Xác nhận chị Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án./
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Tân Yên; - CCTHADS huyện Tân Yên; - UBND xã Ngọc V; - Các đương sự; - Lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Văn Thiện Nguyễn Quốc Sửu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Duyên THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Duyên |