vanban.org

Bản án 49/2020/HSST — Hình sự

TAND TX. Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Tuyên án 29/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong nguyên vẹn số 96/PC09-MT của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề Mẫu vật hoàn trả QT01. (Tình trạng, đặc điểm vật chứng, tài sản như biên bản giao nhận giữa cơ quan đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Phức phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2020/HS-ST
Ngày 29 - 7 - 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Bá Đoàn.

2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2020/HS-ST ngày 08 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2020/QĐXXST- HS ngày 17/7/2020 đối với bị cáo Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1977 tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn M, xã Ng, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến Ph1 và bà Trương Thị V; có vợ là Nguyễn Thị L và 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2010; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 12/10/2018, Tòa án nhân dân huyện Ứ, thành phố Hà Nội xử phạt 17 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; tạm giữ ngày 11/6/2020; tạm giam ngày 17/6/2020. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Tiến Ph1, sinh năm 1944; nơi cư trú: Thôn M, xã Ng, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Trần Văn Ch. Anh Hoàng Văn H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ ngày 11/6/2020, Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn M, xã Ng, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đang ở nhà thì có đối tượng tên là Th ở cùng thôn đến và nói với Ph: "Có tiền không mỗi thằng 100.000đồng góp đi lấy về chơi". Ph nói: "Em không có tiền để em đi vay". Th đồng ý rồi đưa cho Ph 100.000đồng, Ph đi xe đạp đến nhà ông Đào Văn Q ở cùng thôn ứng trước số tiền 100.000đồng (Ph làm thuê cho ông Q), sau đó đi đến nhà đối tượng tên Ng1 ở thôn M, xã Ng để mua ma túy. Khi đến nhà Ng, Ph nói: "Để cho em một cái 200.000đồng". Ph đưa cho Ngọc 200.000đồng, Ng cầm tiền rồi đưa lại cho Ph 01 gói nhỏ màu hồng, Ph cầm ở tay trái rồi đi xe đạp đi về. Khi đi về tới đường làng thuộc thôn M, xã Ng, huyện Kim Bảng thì bị Công an xã Ng, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt quả tang. Thu trong lòng bàn tay trái của Nguyễn Văn Ph 01 gói bên ngoài bọc bằng giấy màu hồng có in màu đỏ, bên trong có chứa các cục chất bột màu trắng đục niêm phong ký hiệu QT01; tạm giữ 01 xe đạp màu trắng nhãn hiệu ASAMA. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn Ph, không phát hiện thu giữ gì.

Tại bản kết luận giám định số 96/PC09-MT ngày 15/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì niêm phong ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,146gam loại Heroine.

Về nguồn gốc số ma túy: Nguyễn Văn Ph khai nhận là do đối tượng tên Thắng ở cùng thôn rủ góp 100.000đồng để mua ma túy về sử dụng. Sau đó Ph đã mua của đối tượng tên Ng ở cùng thôn với số tiền 200.000đồng. Cơ quan điều tra đã xác minh, đấu tranh để làm rõ và không thu thập được tài liệu chứng cứ nên không có căn cứ xử lý Th, Ng theo quy định của pháp luật.

Đối với ông Đào Văn Q đã cho Ph ứng trước tiền nhưng không biết Ph đi mua ma túy về sử dụng nên không xử lý đối với ông Q.

Đối với chiếc xe đạp nhãn hiệu ASAMA là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Tiến Ph1. Ông Ph1 không biết Ph mượn xe đạp để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Ph.

Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKSKB ngày 06/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng đã truy tố Nguyễn Văn Ph về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Nguyễn Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn Ph từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ 11/6/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong nguyên vẹn số 96/PC09-MT của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề Mẫu vật hoàn trả QT01. Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí, quyền kháng cáo. Bị cáo nhất trí với cáo trạng, luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Kim Bảng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

Tại phiên tòa và quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn Ph thành khẩn khai báo. Lời khai nhận tội phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định về chất ma túy, lời khai người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Tòa án có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 11/6/2020, tại thôn M, xã Ng, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1977, nơi cư trú: Thôn M, xã Ng, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam cất giữ trái phép 0,146gam Heroine tại lòng bàn tay trái, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Ng, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Hành vi đó của Nguyễn Văn Ph đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến khách thể được pháp luật Hình sự Việt Nam bảo vệ đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Hành vi cất giữ bất hợp pháp 0,146gam Heroine trong lòng bàn tay trái của bị cáo với mục đích để sử dụng là cất giữ bất hợp pháp, trái quy định của Nhà nước. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chất ma túy không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người mà còn là nguyên nhân làm gia tăng tội phạm.

Xét về mặt chủ quan của tội phạm, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện của bản thân mà vẫn cố ý thực hiện.

Khi quyết định hình phạt Tòa án thấy, bị cáo thành khẩn khai báo, có bố đẻ là thương binh nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có một tiền án về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" nay lại phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử nghiêm minh để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội, luôn có ý thức chấp hành chính sách pháp luật đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai thì bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, là người mắc nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Nguyễn Văn Ph khai nhận là do đối tượng tên là Th ở cùng thôn rủ, góp 100.000đồng để mua ma túy về sử dụng. Sau đó Phức mua của đối tượng tên là Ng ở cùng thôn với số tiền 200.000đồng. Cơ quan điều tra đã xác minh, đấu tranh để làm rõ nhưng không thu thập được tài liệu chứng cứ nào nên không có căn cứ xử lý Th, Ng1 theo quy định của pháp luật. Đối với ông Đào Văn Q đã cho Ph ứng trước tiền nhưng không biết Ph đi mua ma túy về sử dụng nên cơ quan điều tra không xử lý đối với ông Q.

Về xử lý vật chứng: Gồm 01 phong bì niêm phong nguyên vẹn số 96/PC09-MT của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề Mẫu vật hoàn trả QT01 là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo quy định Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe đạp màu trắng, nhãn hiệu ASAMA là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Tiến Phiết là bố đẻ của bị cáo. Ông Ph1 không biết Ph mượn xe đạp để đi mua ma túy nên cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Ph1 là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ph 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ ngày 11/6/2020.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong nguyên vẹn số 96/PC09-MT của Công an tỉnh Hà Nam, phần kính gửi đề Mẫu vật hoàn trả QT01. (Tình trạng, đặc điểm vật chứng, tài sản như biên bản giao nhận giữa cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Bảng ngày 07/7/2020).

3. Án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn Ph phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ