- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2020/HSST Ngày: 19/6/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Giang;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Phúc Ân
2. Ông Nguyễn Văn Bạn
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thái Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 19/6/2020, tại Trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2020/HSST, ngày 10/3/2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2020/QĐXXST-HS ngày 24/4/2020, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1959 tại P, C, Hải Dương; nơi cư trú: Khu dân cư số 11, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P (đã chết) và bà Vũ Thị C (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị B; có 03 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14 ngày 27/3/2019 của Công an phường P xử phạt Nguyễn Văn L 1.500.000 đ về hành vi “Đánh bạc trái phép”, bị cáo đã chấp hành xong ngày 01/4/2019. Bị cáo tại ngoại; có mặt.
* Người làm chứng:
1. Ông Vũ Xuân D, sinh năm 1957;
Địa chỉ: Khu dân cư số 10, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1961;
Địa chỉ: Khu dân cư số 11, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn L (có tiền sự về hành vi đánh bạc) làm đại lý bán vé xổ số kiến thiết của Công ty TNHH một thành viên X tại phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương. L tìm hiểu việc bán số lô, số đề trái quy định của Nhà nước có lợi nhuận cao nên đã nảy sinh ý định bán số lô, số đề nhằm thu lợi. Ai có nhu cầu mua số lô, số đề thì gặp trực tiếp L để mua, cách chơi như sau: Số lô, số đề là số tự nhiên gồm hai chữ số từ 00 đến 99, việc tính thắng thua sẽ được so sánh với kết quả sổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng cùng ngày. Đối với hình thức bán số đề: Nếu người mua số đề trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì thắng và được người bán trả số tiền gấp 70 lần số tiền bỏ ra mua số đề đó, nếu không trùng thì người mua mất số tiền đã bỏ ra. Đối với hình thức bán số lô: Số lô được tính bằng điểm, 01 điểm là 20.000đ. Người mua số lô nếu trùng với hai số cuối của một trong các giải thì người mua thắng và được người bán trả cho số tiền đã bỏ ra mua số lô đó x 3,5 lần x số lần trùng; nếu không trùng thì người mua thua và mất số tiền đã bỏ ra. Việc thắng thua của người mua số lô, số đề L tự thu và trả thưởng. Người chơi sẽ thanh toán ngay tiền chơi cho L.
Khoảng 16 giờ ngày 28/12/2019, một người đàn ông xưng tên là Nguyễn Đức H, sinh năm 1957, trú tại thôn P, xã Đ, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh thuê ông Vũ Xuân D là lái xe ôm chở anh H đến điểm bán xổ số của Nguyễn Văn L tại khu dân cư số 10, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương. H hỏi mua số lô, số đề trái quy định của Nhà nước, L đồng ý. L lấy 01 chiếc bút bi và 02 tờ vé xổ số kiến thiết Hải Dương (loại vé lô tô do công ty phát hành đã qua sử dụng ngày 26/12/2019) để ghi số lô, số đề mà anh H mua gồm: các số 77, 46 mỗi số 5 điểm tương ứng với số tiền 200.000đ; số đề 46 là 50.000đ. Tổng số tiền H mua số lô, số đề là 250.000đ. L ghi nội dung các số lô, số đề H mua, ký tên lên mặt 02 tờ vé số và đưa cho H 01 tờ, L giữ lại 01 tờ để so sánh thắng, thua. H đưa cho L số tiền 250.000đ thì bị lực lượng Công an phường P và Công an thành phố C kiểm tra phát hiện, lập biên bản và thu giữ của Nguyễn Văn L số tiền 250.000đ, 01 chiếc bút bi nhãn hiệu matixs FO-024 màu đen đã qua sử dụng, 01 tờ giấy loại vé lô tô, trên nên mặt trước vé lô tô có ghi “Lô 7755 465 Đ4650”, có chữ ký của L; Thu giữ của Nguyễn Đức H 01 tờ giấy loại vé lô tô trên nên mặt trước vé lô tô có ghi “Lô 7755 465 Đ4650”, có chữ ký của L.
Bản Cáo trạng số 16/CT-VKSCL ngày 05/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Văn L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn L thành khẩn khai nhận như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, đề nghị miễn án phí hình sự cho bị cáo vì bị cáo là người cao tuổi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh thực hành quyền công tố, trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 250.000đ; Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc bút bi nhãn hiệu matixs FO-024 màu đen đã qua sử dụng. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp nội dung biên bản vụ việc, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 28/12/2019, tại khu dân cư số 10, phường P, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn L đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số lô, số đề cho anh Nguyễn Đức H với số tiền 250.000đ thì bị lực lượng Công an phường P và Công an thành phố C kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi đánh bạc với lỗi cố ý trực tiếp, động cơ và mục đích tư lợi, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh xã hội là khách thể được Bộ luật hình sự bảo vệ. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy rằng:
4.1. Về nhân thân: Tại trích lục tiền án, tiền sự ngày 14/01/2020, do phòng Hồ sơ Công an tỉnh Hải Dương cung cấp xác định: Ngày 29/01/1981, Nguyễn Văn L bị Công an tỉnh Hải Hưng bắt về tội làm tiền giả, tàng trữ, lưu hành tiền giả, phá hủy tiền tệ. Tuy nhiên, qua xác minh hồ sơ lưu trữ chỉ có danh chỉ bản của L, ngoài ra, không có tài liệu nào khác. Bản thân L cũng xác định thời điểm đó Công an tỉnh Hải Hưng có triệu tập bị cáo đến làm việc, sau đó xác định bị cáo không có vi phạm pháp luật nên cho bị cáo về nhà; không tạm giữ, tạm giam bị cáo. Do vậy, không xác định là nhân thân của bị cáo.
4.2. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng trừng trị, răn đe và giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người cao tuổi, sức khỏe yếu, thu nhập thấp, kinh tế khó khăn. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với đối tượng khai tên Nguyễn Đức H, sinh năm 1957, trú tại thôn P, xã Đ, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề của Nguyễn Văn L. Quá trình làm việc tại Công an phường P đối tượng đã bỏ trốn. Qua xác minh tại địa phương không có đối tượng nào tên Nguyễn Đức H có lý lịch như trên. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Chí Linh tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Số tiền 250.000đ là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; 01 chiếc bút bi nhãn hiệu matixs FO-024 màu đen đã qua sử dụng của Nguyễn Văn L, là công cụ dùng vào việc phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; 02 tờ giấy loại vé lô tô, trên nên mặt trước vé lô tô có ghi “Lô 7755 465 Đ4650”, có chữ ký của L, đây là chứng cứ tài liệu quan trọng nên cần được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
3. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 250.000đ; Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc bút bi nhãn hiệu matixs FO-024 màu đen đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh).
4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn L.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Chí Linh; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố Chí Linh; - Sở Tư pháp tỉnh HD; - Chi cục THA thành phố Chí Linh; - Lưu hồ sơ; - Lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kim Giang |