- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2020/HSST Ngày: 29/4/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Quang;
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh H và bà Hoàng Thị Thu Hà.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đắc Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 29/4/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2020/HSST ngày 09 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2020/HSST ngày 17 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Đỗ Mạnh H, sinh năm 1976; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT và cư trú: Số 5, ngách 126/2 Xuân Đỉnh, tổ dân phố 3, phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Đỗ Ngọc T (đã chết); con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1947; có vợ là Vũ Kim Thư, sinh năm 1980 và có 02 con (sinh năm 2006 và 2017); tiền án, tiền sự: Không.
Nhân Thân: Bản án số 124/HSST ngày 14/12/1999, Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản.
Ngày 06/11/2006 Công an huyện Từ Liêm lập danh chỉ bản về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, không có thông tin về hình thức xử lý.
Bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 31/12/2019, hiện đang tạm giam tại Trại giam số 1 Công an thành phố Hà Nội và có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 31/12/2019, Đỗ Mạnh H điều khiển xe máy BKS 30K8-3690 từ nhà đến trước cổng công viên Hòa Bình, phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội gặp và mua của 01 người đàn ông (không xác định được nhân thân lai lịch) 500.000 đồng ma túy đá về sử dụng. Sau khi cầm tiền, người đàn ông đưa H 1 túi nilon màu trắng KT 3x4cm bên ngoài dán băng dính màu đen, bên trong có 02 túi nilon chứa ma túy đá. H dùng băng dính màu đen dán vào phía sau mặt nạ xe máy và điều khiển xe máy đến ngõ 126 đường Xuân Đỉnh để đợi bạn, đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì bị bắt quả tang, thu giữ: 01 túi nilon màu trắng KT 3x4cm bên ngoài dán băng dính màu đen, bên trong có 02 túi nilon chứa ma túy đá; 01 xe máy; 02 điện thoại di động.
Tại bản kết luận giám định số 209 ngày 08/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,742gam.
Quá trình điều tra xét nghiệm tìm chất ma túy xác định H có sử dụng ma túy. Đồng thời H thành khẩn khai nhận hành vi như trên và khai người bán ma túy cho H, H không biết tên tuổi địa chỉ. Đối với xe máy BKS 30K8-3690 H mượn của người tên Tuấn (không rõ nhân thân, lai lịch) để làm phương tiện đi lại. Kết quả xác minh chưa xác định được nguồn gốc chiếc xe nên Cơ quan điều tra đã tách rút tài liệu để tiếp tục xác minh làm rõ.
Tại bản cáo trạng số: 42/CT-VKSBTL ngày 04 tháng 3 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Đỗ Mạnh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm giữ nguyên quyết định của bản cáo trạng đã truy tố, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo mức án từ 20 đến 24 tháng tù, không phạt bổ sung bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy ma túy đã thu giữ, trả bị cáo 2 điện thoại di động đã thu giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Đỗ Mạnh H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng được thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác.
Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Hồi 14 giờ 00 phút ngày 31/12/2019, tại khu vực ngõ 126 đường Xuân Đỉnh, phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Đỗ Mạnh H tàng trữ 0,742 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách phòng ngừa, ngăn chặn và kiểm soát tệ nạn ma tuý. Bị cáo biết ma túy tác hại xấu đến sức khỏe của con người, biết pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo vẫn mua ma túy về để sử dụng trái phép; không những gây mất trật tự xã hội mà còn là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Do vậy cần áp dụng hình phạt phù hợp đối với bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, nên hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ:
- 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy đã giám định xác định là Methamphetamine bên ngoài có chữ ký giáp lai của Đỗ Mạnh H và giám định viên thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung lắp số thuê bao: 0984116006 và 01 điện thoại di động kiểu dáng nokia 106 màu đen lắp số thuê bao 089825719 đã qua sử dụng, máy không bật được nguồn, số thuê bao không hoạt động, không kiểm tra chất lượng bên trong, đều không dùng vào việc phạm tội cần trả lại bị cáo.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
3. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Mạnh H 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/12/2019.
4. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy đã giám định xác định là Methamphetamine bên ngoài có chữ ký giáp lai của Đỗ Mạnh H và giám định viên.
- Trả lại Đỗ Mạnh H:
+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung lắp số thuê bao: 0984116006 đã qua sử dụng, máy không bật được nguồn, số thuê bao không hoạt động, không kiểm tra chất lượng bên trong.
+ 01 điện thoại di động kiểu dáng nokia 106 màu đen lắp số thuê bao 089825719 đã qua sử dụng, máy không bật được nguồn, số thuê bao không hoạt động, không kiểm tra chất lượng bên trong.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 104/20 ngày 05/3/2020 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm).
5. Về án phí và quyền kháng cáo:
- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. HỘI THẨM NHÂN DÂN
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |