- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Minh A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Minh A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 117 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| tàTÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2020/HS-ST Ngày: 16-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Hải
Ông Nguyễn Đình Đoan Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Châu Nữ Thu Hân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Lê Thành Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Minh A, sinh năm 1993, tại Đồng Tháp; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Ấp 5, xã Ba S, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Minh N và bà Bùi Thị Xuân H; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án: Không; Tiền sự: Bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 19 tháng theo Quyết định số 54/QĐ-TA ngày 28/11/2019, của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, chấp hành từ ngày 11/11/2019 đến ngày 13/02/2020 tạm đình chỉ chấp hành biện pháp xử lý hành chính; Nhân thân: Bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng theo Quyết định số 08/2017/QĐ_TA ngày 04/01/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, chấp hành xong ngày 31/10/2017; Tạm giữ: Không; Tạm giam: 13/02/2020. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Dương Minh A là người nghiện ma túy từ năm 2016, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 18 giờ ngày 10/11/2019, bị cáo đi xe buýt đến ngã ba An Thái T, huyện Cái B, Tiền Giang để mua ma túy của người đàn ông chạy xe ôm với giá 200.000 đồng. Người chạy xe ôm giao cho bị cáo 01 bịch nylon dạng nắp kẹp, một đầu có viền màu xanh, bên trong có chứa nhiều tinh thể màu trắng, nhận được ma túy bị cáo giấu vào bóp da màu nâu rồi đón xe khách về trại gà của anh Phạm Văn T, ở Tổ 4, Ấp 3, xã Mỹ T, thành phố Cao L chơi. Khoảng 23 giờ cùng ngày, bị cáo mượn xe mô tô biển số 66P1-206.88 của anh T đi mua nước uống, trên đường đi do có dấu hiệu nghi vấn nên bị cáo bị Công an xã Mỹ T đang tuần tra kiểm soát yêu cầu bị cáo dừng xe, kiểm tra giấy tờ, trong lúc kiểm tra do có ma túy trong người nên bị cáo bỏ chạy thì bị lực lượng Công an đuổi theo, bị cáo dùng tay phải lấy bóp da có chứa ma túy ở túi quần jean bên phải ném vào khu vực nhà của anh Nguyễn Văn H, thuộc Tổ 4, Ấp 3, xã Mỹ T, thành phố C. Sau khi mời bị cáo về trụ sở làm việc thì bị cáo khai nhận lúc bỏ chạy có ném 01 cái bóp da nên Công an đến hiện trường phát hiện có 01 bóp da màu nâu và kiểm tra bên trong có 01 bịch nylon màu trắng dạng nắp kẹp, có viền màu xanh, bên trong bịch nylon chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy và lập biên bản vụ việc vào lúc 23 giờ 20 phút ngày 10/11/2019 và báo cáo sự việc lên Công an thành phố Cao Lãnh xử lý.
Biên bản tạm giữ tang vật bên trong bóp da màu nâu thể hiện: 01 bịch nylon màu trắng dạng nắp kẹp, có viền màu xanh, bên trong bịch nylon chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 66F1-319.00 tên Dương Minh N; 03 giấy bảo hiểm xe mô tô biển số 66F1-319.00 tên Dương Minh N; 01 thẻ nhựa có ghi chữ “3 KHÍA” đã qua sử dụng; 01 giấy biên nhận nợ tên Võ Thị Tuyết N1; Tiền 158.000 đồng; 01 chiếc bóp da màu nâu;
Tại kết luận giám định số 915/KL-KTHS ngày 12/11/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp đã kết luận, 01 bịch nylon màu trắng dạng túi kẹp, có viền màu xanh, được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có trọng lượng 0,108 gam, loại Methamphetamine (số thứ tự 323, nghị định số 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ). Số ma túy còn lại sau giám định là 0,080 gam được niêm phong số 946, hoàn lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh xử lý theo qui định pháp luật.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Dương Minh A có dương tính chất Methamphetamine.
Đối với giấy đăng ký xe mô tô biển số 66F1-319.00 và 03 giấy bảo hiểm xe mô tô biển số 66F1-319.00 tên Dương Minh N. Trong quá trình Điều tra không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh trả lại cho ông Dương Minh N.
Đối với xe mô tô 66P1-206.88 do chị Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1991, ngụ ấp 3, xã Phong M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp làm chủ sở hữu. Chị C bán cho anh Phạm Văn T, sinh năm 1984, ngụ tổ 4, ấp 3, xã Mỹ T, thành phố C, khi A mượn xe anh T đi công việc. Anh T không biết việc A sử dụng xe vào việc phạm tội nên ngày 18/4/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh trả lại cho Phạm Văn T.
Đối với 01 thẻ nhựa có ghi chữ “3 KHÍA”; 01 giấy biên nhận nợ tên Võ Thị Tuyết N1; Tiền 158.000 đồng. Trong quá trình Điều tra không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Lãnh trả lại cho bị can.
Trong quá trình điều tra, Dương Minh A thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Viện kiểm sát truy tố, thống nhất với kết luận giám định.
Bản cáo trạng số 42/CT-VKSND-TPCL ngày 26-5-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp truy tố Dương Minh A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như Cáo Trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Minh A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Minh A với mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Áp dụng Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính: Miễn chấp hành phần thời gian còn lại theo Quyết định số 54/QĐ-TA ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bị cáo Dương Minh A.
Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, không vì vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định là 0,080 gam loại Methamphetamine được niêm phong số 946 và 01 cái bóp da màu nâu.
Khi nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Lãnh, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong quá trình điều tra, truy tố, đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả và được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận vào lúc 23 giờ ngày 10/11/2020 đang trên đường đi mua nước uống tại địa phận xã Mỹ Tân, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp bị cáo Dương Minh A có hành vi tàng trữ trái phép 0,108 gam ma túy loại Methamphetamine.
Hành vi của bị cáo Dương Minh A đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi của bị cáo gây ra.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Dương Minh A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với chất ma túy và gây mất trật tự trị an tại địa phương, tội phạm về ma túy là nguyên nhân của những tệ nạn khác gây nhiều hệ lụy xấu cho toàn xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, đã từng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, biết rõ hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần phải áp dụng đối với bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời, cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Khi xem xét quyết định hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử cũng xem xét tình tiết giảm nhẹ của bị cáo để có mức án phù hợp.
Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, thỏa mãn cơn nghiện, không mang tính vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính: Miễn chấp hành phần thời gian còn lại theo Quyết định số 54/QĐ-TA ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bị cáo Dương Minh A.
Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định là 0,080 gam loại Methamphetamine được niêm phong số 946 ngày 11/11/2019 và 01 cái bóp da màu nâu
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Đối với người xe ôm mà bị cáo khai đã bán trái phép ma túy cho bị cáo ở gần khu vực trạm xe buýt huyện Cái B, tỉnh Tiền Giang nhưng do không xác định nhân thân và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Cao Lãnh đã tách ra để tiếp tục điều tra xử lý sau. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Dương Minh A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Dương Minh A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 13/02/2020.
Áp dụng Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính: Miễn chấp hành phần thời gian còn lại theo Quyết định số 54/QĐ-TA ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bị cáo Dương Minh A.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định là 0,080 gam loại Methamphetamine được niêm phong số 946, ngày 11/11/2019 và 01 cái bóp da màu nâu.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Dương Minh A phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - VKSND TPCL; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - CQĐT Công an TPCL; - CQTHAHS Công an TPCL; - Trại tạm giam CA tỉnh ĐT; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã Ký) Đặng Thị Thanh Thảo |