vanban.org

Bản án 49/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 3, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt phạm tội quả tang là ngày 10 tháng 11 năm 2019. Tịch thu, tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Bột màu trắng có khối lượng 0,0715g được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự giao trả lại
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2020/HS-ST
Ngày: 19-05-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đặng Thị Ngọc Hằng.

Ông Nguyễn Bá Duy Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 05 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 14/2020/HS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2020, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2020/HSST-QĐ ngày 06 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN A, sinh ngày 22-12-1968 tại Sài Gòn; Trú tại: 60/13 Trương Phước Phan, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 3/12; Giới tính: Nam;Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B(chết) và bà Nguyễn Thị C(chết); Tiền án: Ngày 21-3-2006 bị Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 23-11-2010 bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản; Ngày 17-01-2015 bị Tòa án nhân dân Thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 05 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 1984 bị Công an Quận 3 bắt về hành vi “ Trộm cắp tài sản của công dân”; Năm 1987 bị Công an Quận 3 bắt về hành vi “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân” ; Năm 1989 bị Công an Quận 3 bắt về hành vi “ Cưỡng bức lao động”; Năm 1989 bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử 16 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản của công dân”; Năm 1991 bị Công an Quận 1 bắt về hành vi “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”; Năm 2000 bị Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 15 tháng tù về tôi “ Xâm phạm tài sản của người nước ngoài”. Bị bắt phạm tội quả tang ngày 10-11-2019. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Văn A là người đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, đã bị áp dụng tình tiết tái phạm trong những bản án trước, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội như sau: Khoảng 10 giờ ngày 10-11-2019 bị cáo Nguyễn Văn A điều khiển xe gắn máy hiệu Air Blade, màu đỏ đen, biển số 50N1-724.22 đến đường Bùi Viện, Quận 1 mua ma túy loại Heroin với giá 100.000 đồng của một người đàn ông không rõ lai lịch để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi bị cáo A về đến trước nhà số 629/23 Nguyễn Đình Chiểu thì bị tổ tuần tra Công an Phường 2, Quận 3 thấy có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra hành chính, khi kiểm tra phát hiện trong túi quần phía trước bên phải của bị cáo A có 01 gói thuốc lá hiệu Hero, bên trong gói thuốc lá có 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy nên tổ tuần tra đưa bị cáo A cùng tang vật về Công an Phường 2 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển giao đối tượng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 3 xử lý theo thẩm quyền. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an Quận 3, Bị cáo A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận giám định số 2072/KLGĐ-H ngày 18-11-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Bột màu trắng trong gói nylon gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1128gr, loại Heroin.

Bản cáo trạng số 13/CT-VKS-HS ngày 21-2-2020 Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn A thừa nhận đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy do Công an Quận 3 thu giữ; giao trả xe gắn máy hiệu Honda Blade biển số 50N1-724.22 cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Văn A đã nhận thấy hành vi vi phạm pháp luật của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Căn cứ biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an Phường 2, Quận 3 lập ngày 10-11-2019, Bản kết luận giám định số 2072/KLGĐ-H ngày 18-11-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh; Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn A là đối tượng đã có tiền án thuộc trường hợp đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, đã bị áp dụng tình tiết tái phạm trong những bản án trước, chưa được xóa án tích nay tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý. Vào ngày 10-11-2019, bị cáo Nguyễn Văn A đã bị bắt quả tang có hành vi cất giữ trái phép 0,1128gr, loại Heroin là đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm được qui định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Nguyễn Văn A hoàn toàn biết rõ tác hại của việc mua bán cũng như tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo vẫn bất chấp và lao vào con đường phạm tội. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy do bị cáo A thực hiện không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma túy và bài trừ tệ nạn sử dụng trái phép chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh các tội phạm khác và làm lan truyền các căn bệnh nguy hiểm chưa có thuốc chữa trong nhân dân. Do vậy bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi mình đã gây ra.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy, bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt tù, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Tuy nhiên, cũng xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn nhận tội, có thái độ thật sự ăn năn hối cải; do đó áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để có hình phạt tù nghiêm khắc và tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

Vật chứng của vụ án: Xét số ma túy do Cơ quan điều tra thu giữ là vật cấm lưu hành, tàng trữ và không có giá trị sử dụng, áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu và tiêu hủy. Đối với 01 xe gắn máy biển số 50N1-724.22 bị cáo là chủ sở hữu, xe bị cáo xử dụng thường ngày, không liên quan đến vụ án, áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự giao trả lại cho bị cáo là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH3 ngày 25-11-2015 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt phạm tội quả tang là ngày 10 tháng 11 năm 2019.

Tịch thu, tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Bột màu trắng có khối lượng 0,0715g được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra;

Giao trả cho bị cáo một xe gắn máy hiệu Air Blade màu đỏ đen, biển số: 50N1-724.22, số máy: JA36E0707536, số khung: RLHJA3653GY158172, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

(Tài sản tịch thu, tiêu hủy và giao trả ghi trong Lệnh nhập kho vật chứng số 249 ngày 25-12-2019, biên bản giao nhận vật chứng ngày 25-12-2019 và ngày 08-4-2020 của Công an Quận 3).

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi nhận:

TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND Tp.HCM;

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND Quận 3; -Công an Quận 3; -Sở Tư pháp; -Chi cục Thi hành án dân sự Q3; -Các đương sự; -Lưu VP, Hồ sơ(…)

Nguyễn Thành TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

_________________

_________________________ Số:669/2020/TB-TA

Quận 3, ngày 21 tháng 7 năm 2020

THÔNG BÁO SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ các Điều 45, Điều 260, Điều 261 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Xét thấy bản án Hình sự sơ thẩm số 49/HS-ST ngày 19-5-2020 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh có nhầm lẫn và thiếu sót nay cần được sửa chữa bổ sung như sau:

1. Về nội dung tại trang số 4, dòng thứ 04 tính từ trên xuống của bản án nói trên có ghi: “...xe gắn máy hiệu Air Blade màu đỏ đen,.....”.

Nay bổ sung, sửa chữa như sau:“....xe gắn máy hiệu bên ngoài có dán nhãn hiệu Honda, loại Blade màu đỏ đen,...’.

2. Những phần khác vẫn được giữ nguyên theo nội dung của Bản án.

Cỡ chữ