vanban.org

Bản án 49/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk G'Long, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 08/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Hà Văn L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 01 áo thun màu trắng bạc, phía trước có in hình mặt hổ màu xanh trắng có dòng chữ ThaiLand; 01 mũ vải caro màu xanh đen bọc da, phía trước có logo da. Tịch thu, sung ngân sách nhà nước: 01 điện … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "L chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Hà Văn L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK GLONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 49/2020/HS-ST
Ngày 08-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Võ Văn Vinh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Hữu Tỷ

2. Ông Phạm Xuân Đức.

- Thư ký phiên toà: ông Phạm Duy Cường – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên toà: bà Cao Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2020/TLST-HS ngày 20-8-2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2020/QĐXXST-HS, ngày 26-8-2020 đối với bị cáo:

Hà Văn L; tên gọi khác: L1; sinh năm 1986 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn V, xã C, huyện N, tỉnh T; chỗ ở trước khi phạm tội: không xác định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn T và bà Lương Thị T; nhân thân: ngày 23-02-2009, phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2010/HSST ngày 06-01-2010 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đắk Nông xử phạt 03 năm 06 tháng tù, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 04-11-2012, (được coi là không có án tích); bị bắt, tạm giữ ngày 04-6-2020; có mặt.

- Bị hại: anh K’T; địa chỉ: thôn 7, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; có mặt;

- Người làm chứng:

+ Anh K’A, sinh năm 1973; trú tại: thôn 2, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; có mặt;

+ Anh Hoàng Ngọc H, sinh năm 1993; trú tại: thôn 2, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Văn L là người sống lang thang không nơi ở ổn định. Năm 2017, L đến làm nhân viên phục vụ tại quán Karaoke G thuộc thôn 5, xã Q, huyện Đng, tỉnh Đắk Nông và lấy tên gọi khác là L1. Tại đây, L có quan hệ quen biết với anh K’T.

Vào lúc 11 giờ ngày 20-3-2020, L mời anh K’T uống rượu tại quán Ốc G thuộc thôn 5, xã Q, huyện Đ. Anh K’T gọi thêm các anh K’A và Hoàng Ngọc H đến cùng tham gia. Trong lúc uống rượu, L hỏi mượn xe mô tô biển kiểm soát 48B1-384.93 của anh K’T để đi giải quyết việc nợ nần. Nghe vậy, anh K’T đồng ý, đưa chìa khóa xe cho anh H để chở L. Trên đường đi, L gọi điện cho một người phụ nữ tên là H (chưa rõ nhân thân lai lịch) để lấy khoản tiền “hụi” 5.000.000 đồng. Chị H nói chờ một lúc nên L và anh H vào quán cà phê D thuộc thôn 5, xã Q ngồi đợi. Một lúc sau, L tiếp tục gọi điện cho chị H. Chị H hẹn L gặp nhau ở thôn 2, xã Q. L nói với anh H “Em ngồi uống nước, anh chạy xe xuống đây có việc”. Sau đó, L dùng xe mô tô biển kiểm soát 48B1-384.93 chạy đến điểm hẹn nhưng chị H không đến. L gọi điện thoại cho chị H cũng không liên lạc được. Vì lo không đủ để thanh toán tiền uống rượu và tiền nợ hát karaoke nên L nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của anh K’T. Lúc này, anh K’T liên tục gọi điện thoại nhưng L không nghe máy mà chạy xe đến xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, bán xe cho một người đàn ông lạ mặt được số tiền 5.000.000 đồng. Số tiền bán xe, L đã dùng hết vào việc tiêu xài cá nhân.

Ngày 21-3-2020, anh K’T tố giác đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong. Ngày 04-6-2020, L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong bắt.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã thu giữ: 01 áo thun màu trắng bạc, phía trước có in hình mặt hổ màu xanh trắng có dòng chữ ThaiLand; 01 mũ vải caro màu xanh đen bọc da, phía trước có logo da do Hà Văn L giao nộp; 01 điện thoại di động cảm ứng màu đen, không rõ nhãn hiệu của Hà Văn L.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 48B1-38.493, nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu xanh bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã xác minh, truy tìm nhưng không có kết quả.

Tại bản định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 01-4-2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: xe mô tô biển kiểm soát 48B1-38.493, nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu xanh bạc, có giá trị còn lại là 38.053.800 đồng.

* Về trách nhiệm dân sự: anh K’T yêu cầu Hà Văn L bồi thường thiệt hại số tiền 38.053.800 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 53/CT-VKS, ngày 20-8-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố Hà Văn L về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, thừa nhận bị truy tố về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự là không oan.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án và các tình tiết của vụ án, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: tuyên bố Hà Văn L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Về hình phạt: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Hà Văn L từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Về vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 01 áo thun màu trắng bạc, phía trước có in hình mặt hổ màu xanh trắng có dòng chữ ThaiLand; 01 mũ vải caro màu xanh đen bọc da, phía trước có logo da. Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động cảm ứng màu đen, không rõ nhãn hiệu. Về trách nhiệm dân sự: buộc Hà Văn L bồi thường cho anh K’T số tiền 38.053.800 đồng.

Khi tranh luận, bị cáo không ý kiến, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: ngày 20-3-2020, tại thôn 5, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Hà Văn L mượn 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 48B1-38.493, nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER, màu xanh bạc của anh K’T để giải quyết việc nợ tiền. Tuy nhiên, do không lấy được tiền để trả nợ và để tiêu xài cá nhân, L đã chiếm đoạt chiếc xe của anh K’T rồi bỏ trốn sang tỉnh Lâm Đồng bán được số tiền 5.000.000 đồng. Trị giá của chiếc xe mô tô được Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự xác định là 38.053.800 đồng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố bị cáo về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, cụ thể: Tại Điều 175 của Bộ luật Hình sự quy định:

‘‘1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;”

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Đồng thời, trị giá tài sản bị chiếm đoạt lớn (38.053.800 đồng). Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên có căn cứ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo không có nơi ở ổn định nên cần cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo được mục đích của hình phạt

Về vật chứng: đối với 01 áo thun màu trắng bạc, phía trước có in hình mặt hổ màu xanh trắng có dòng chữ ThaiLand; 01 mũ vải caro màu xanh đen bọc da, phía trước có logo da của Hà Văn L giao nộp do không còn giá trị sử dụng, bị cáo đề nghị tiêu hủy nên cần tịch thu, tiêu hủy; đối với 01 điện thoại di động cảm ứng màu đen, không rõ nhãn hiệu do Hà Văn L giao nộp, đây là tài sản bị cáo liên lạc để bán xe nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: anh K’T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 38.053.800 đồng là số tiền định giá chiếc xe bị cáo chiếm đoạt, tại phiên tòa, bị cáo đồng ý nên cần buộc bồi thường số tiền 38.053.800 đồng là có căn cứ.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: bị cáo Hà Văn L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Hà Văn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, tính từ ngày tạm giam (ngày 04-6-2020).

2. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 01 áo thun màu trắng bạc, phía trước có in hình mặt hổ màu xanh trắng có dòng chữ ThaiLand; 01 mũ vải caro màu xanh đen bọc da, phía trước có logo da. Tịch thu, sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động cảm ứng màu đen, không rõ nhãn hiệu. (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24-8-2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông).

3. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự, buộc Hà Văn L bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm hại cho anh K’T số tiền là 38.053.800 đồng. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị hại có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo không bồi thường số tiền trên thì còn phải chịu tiền lãi theo quy định của pháp luật.

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Hà Văn L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.903.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ