- Tranh chấp gì? án hình sự — "BA Nguyễn Thị Út cùng đồng phạm (Đ 321) - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị U (L), Nguyễn Thị Thùy T, Nguyễn Thị H, Trương Thị C đồng phạm tội: “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Bộ luật tố tụng hình sự Quá trình điều tra
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 49/2020/HS-ST Ngày 27 - 10 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tr n V n áu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Phước Tân;
2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Ái.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Huynh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh - Kiểm sát viên
Trong ngày 27 tháng 10 n m 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2020/TLST-H ngày 01 tháng 10 n m 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/QĐXX T-H ngày 15 tháng 10 n m 2020, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị U (L), sinh n m 1964 tại Châu Đốc, An Giang; ĐKHKTT và chỗ ở: Khóm CX, phường C, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật; con ông Nguyễn V n L (chết) và bà Chế Thị Ô (chết); có chồng tên Đặng V n H1 (chết) và có 03 con; con lớn nhất sinh n m 1990, con nhỏ nhất sinh n m 1995; anh, chị, em có 10 người, bị cáo là người thứ tám
Nhân thân: Từ nhỏ sống với cha mẹ, học hết lớp 1 nghỉ học phụ giúp gia đình cho đến ngày phạm pháp
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2020 đến ngày 13/5/2020 được thay đổi biện pháp tạm giữ, tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú;
Bị cáo có mặt
2. Nguyễn Thị Thùy T, sinh n m 1973 tại Phú Tân, An giang; ĐKHKTT và chỗ ở: Ấp A, thị trấn AP, huyện An Phú, tỉnh An; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo:Phật giáo Hòa Hảo; con ông Nguyễn V n L1 (chết) và bà Phạm Thị H1 (chết); có chồng tên Nguyễn V n Q, sinh n m 1974 và có 02 con, con lớn sinh n m 1995, con nhỏ sinh n m 2000; anh, chị em ruột có 08 người, bị cáo là người thứ bảy
Nhân thân: Từ nhỏ sống với cha mẹ, học hết lớp 5 nghỉ học phụ giúp gia đình, sống nghề mua bán cho đến ngày phạm pháp
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2020 đến ngày 13/5/2020 được thay đổi biện pháp tạm giữ, tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú;
Bị cáo có mặt
3. Trương Thị C, sinh n m 1968 tại An Phú, An Giang; ĐKHKTT: Ấp P, xã PH, huyện An Phú, tỉnh An Giang; chỗ ở: Ấp A, thị trấn AP, huyện An Phú, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo:Không; con ông Trương V n H2 (chết) và bà Đinh Thị Đ, sinh n m 1947; có chồng tên Nguyễn V n N (chết) và có 02 con, con lớn sinh n m 1989, con nhỏ sinh n m 1996; chị em ruột có 03 người, bị cáo là người thứ nhất
Nhân thân: Từ nhỏ sống với cha mẹ, học hết lớp 3 nghỉ học phụ giúp gia đình, sống nghề mua bán cho đến ngày phạm pháp
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2020 đến ngày 13/5/2020 được thay đổi biện pháp tạm giữ, tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú;
Bị cáo có mặt
4. Nguyễn Thị H, sinh n m 1973 tại An Phú, An Giang; ĐKHKTT và chỗ ở: Ấp P, xã PH, huyện An Phú, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; con ông Nguyễn V n H3 (chết) và bà Tr n Thị M (chết); có chồng tên Bùi V n H4, sinh n m 1973 và có 03 con, con lớn nhất sinh n m 2001, nhỏ nhất sinh n m 2013; anh, chị em ruột có 04 người, bị cáo là người thứ ba
Nhân thân: Từ nhỏ sống với cha mẹ, học hết lớp 6 nghỉ học phụ giúp gia đình cho đến ngày phạm pháp
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2020 đến ngày 13/5/2020 được thay đổi biện pháp tạm giữ, tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú;
Bị cáo có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Huỳnh V n C1, sinh n m 1991; địa chỉ: Ấp T, thị trấn L, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
2. Lý Thị Tú A, sinh n m 1958; địa chỉ: Ấp A, thị trấn AP, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
3. Phan Bảo T2, sinh n m 1979; địa chỉ: Ấp A, thị trấn AP, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
- Người làm chứng:
1. Tr n Thị T3, sinh n m 1986;
2. Nguyễn Thị Bé N1, sinh n m 1988;
3. Mã Thị Ngọc T4, sinh n m 1990;
4. Nguyễn Thị T5, sinh n m 1980;
5. Nguyễn Thị C2, sinh n m 1982;
6. Hồ Thị N2, sinh n m 1951
Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; những người làm chứng vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 07/5/2020, nhận được tin báo tại khu vực tổ 7, ấp An Hưng, thị trấn An Phú, huyện An Phú có nhiều đối tượng đang đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi tài xỉu, nên lực lượng Công an tiến hành đến địa điểm trên kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thị U, Nguyễn Thị Thùy T, Nguyễn Thị H, Trương Thị C cùng tang vật, gồm:
- ố tiền 34 878 000 (ba mươi bốn triệu tám tr m bảy mươi tám nghìn) đồng;
- 01 tấm nhựa ghi chữ “Tài”, “Xỉu”, 01 đĩa sành, 01 nắp nhựa, 06 hột xí ng u
- 01 điện thoại di động hiệu amsung Galaxy J7 Prime, màu vàng
Quá trình điều tra xác định: Ngày 06/5/2020, Huỳnh V n C1 điện thoại rủ U đến tổ 7, ấp An Hưng, thị trấn An Phú, huyện An Phú tham gia đánh bạc dưới hình thức chơi tài xỉu thắng thua bằng tiền và thỏa thuận chia đôi tiền bảo Ngày 06/5/2020 U lắc được 02 chén bảo, chia cho C1 300.000 đồng
Khoảng 11 giờ ngày 07/5/2020, U mang theo 20 000 000 đồng cùng dụng cụ lắc tài xỉu (06 hột xí ng u) đến địa điểm trên để tham gia đánh bạc, đến nơi thấy sòng tài xỉu đang chơi nên U nằm võng đợi au đó, C1 kêu U vào làm cái lắc tài xỉu, U lấy ra 5 000 000 đồng làm vốn Lúc này, T mang theo 3.000.000 đồng, C mang theo 992 000 đồng, H mang theo 1 114 000 đồng (tiền của H 814 000 đồng và 300 000 đồng của Nguyễn Thị C2 trả nợ cho H) đến sòng tài xỉu do U thủ cái tham gia đặt cược Trong lúc chơi, Phan Bảo T2 làm vĩ chung chi tiền cho U được 01 ván thì U không cho T2 làm vĩ nữa, U tự mình chung chi với các con bạc Lý Thị Tú A mang theo 40 000 đồng tham gia đặt cược 03 ván, mỗi ván 10 000 đồng (thua 02 ván, thắng 01 ván) thì nghỉ không tham gia đặt cược nữa, nhưng vẫn ngồi tại khu vực sòng bạc để xem, còn T tham gia đặt cược mỗi ván 30 000 đồng, C đặt cược mỗi ván 100 000 đồng, H đặt cược mỗi ván 50 000 đồng Chơi đến khoảng 13 giờ cùng ngày, thì Công an đến bắt quả tang U, T, H và C cùng với số tiền trên chiếu bạc 15 622 000 đồng, thu trong bóp vải của U 15 000 000 đồng và 06 hột xí ng u, thu trên người C 792 000 đồng, thu trên người T 2 500 000 đồng, thu trên người H 964 000 đồng, thu trên người Lý Thị Tú A 30 000 đồng
Ngày 13/5/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện An Phú ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị U, Nguyễn Thị Thùy T, Nguyễn Thị H, Trương Thị C.
Trong quá trình điều tra, Huỳnh V n C1 nộp lại số tiền 300 000 đồng
Cáo trạng số 42/CT-VKS-AP ngày 28 tháng 9 n m 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú truy tố các bị cáo Nguyễn Thị U, Nguyễn Thị Thùy T, Nguyễn Thị H, Trương Thị C về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa,
Các bị cáo thú nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên Các bị cáo thừa nhận số tiền trong bóp và số tiền trên người các bị cáo bi thu giữ sẽ sử dụng vào việc đánh bạc Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng vắng mặt Đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không có ý kiến về các lời khai này.
Trong lời luận tội, Vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố au khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi; các tình tiết giảm nhẹ, vai trò và nhân thân từng bị cáo, đã đề nghị tuyên các bị cáo Nguyễn Thị U, Nguyễn Thị Thùy T, Nguyễn Thị H, Trương Thị C phạm tội “Đánh bạc”
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị U từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù giam.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị Thùy T, Nguyễn Thị H, Trương Thị C hình phạt cải tạo không giam giữ, cụ thể:
- Xử phạt bị cáo T từ 01 (một) n m đến 01 (một) n m 06 (sáu) tháng, được khấu trừ 06 (sáu) ngày bị tạm giữ;
- Xử phạt bị cáo H từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng, được khấu trừ 06 (sáu) ngày bị tạm giữ;
- Xử phạt bị cáo C từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng, được khấu trừ 06 (sáu) ngày bị tạm giữ
Đề nghị không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo
Về hình phạt bổ sung, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với tất cả các bị cáo
Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng các điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 35 208 000 (ba mươi l m triệu hai tr m lẽ tám nghìn) đồng; tịch thu tiêu hủy dụng cụ lắc tài xỉu
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận
Lời nói sau cùng, các bị cáo tỏ thái độ n n n, hứa không tái phạm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Phú, tỉnh An Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được xác định hợp pháp
[1 2] Về việc vắng mặt tại phiên tòa: Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ Tuy nhiên, những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án; lời khai của những người này đã được công bố tại phiên tòa, các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến Xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên tiến hành xét xử vắng mặt đối với họ là phù hợp với quy định tại các điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự
Về nội dung:
[2 1] Xét thấy lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của những người tham gia tố tụng khác; phù hợp với nội dung Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang ngày 07/5/2020 của Công an huyện An Phú và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ Có cơ sở xác định: Khoảng 13 ngày 07/5/2020, trong lúc bị cáo Nguyễn Thị U đang thủ cái lắc tài xỉu được thua bằng tiền với các con bạc khác thì bị lực lượng Công an huyện An Phú bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc 15 622 000 đồng; trong bóp vải bị cáo U 15.000.000 đồng; trên người bị cáo C 792 000 đồng; trên người bị cáo T 2 500 000 đồng; trên người bị cáo H 964.000 đồng, tổng cộng là 34 878 000 (ba mươi bốn triệu tám tr m bảy mươi tám nghìn) Các bị cáo đều thừa nhận số tiền các bị cáo mang theo trên người sử dụng vào việc đánh bạc C n cứ hướng dẫn tại mục 3, Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”, có c n cứ xác định số tiền đánh bạc bắt quả tang tại chiếu bạc là 34 878 000 (ba mươi bốn triệu tám tr m bảy mươi tám nghìn) đồng Hành vị của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”; tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017) Xác định, Truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú là có c n cứ và đúng pháp luật
[2 2] Đây là vụ án có đồng phạm nhưng với tính chất giản đơn, các bị cáo đều có đ y đủ n ng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, tham gia đánh bạc bằng hình thức sử bộ dụng cụ tài xỉu Bị cáo U là người thủ cái sát phạt với các con bạc còn lại Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với động cơ vụ lợi, mục đích thắng thua bằng tiền Các bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích vật chất và tính đam mê cờ bạc mà các bị cáo cố ý thực hiện Đánh bạc là tệ nạn xã hội, gây mất an ninh trật tự; phát sinh mâu thuẫn gia đình; nó còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác như: Trộm cắp, lừa đảo, cướp giật…Chính vì vậy, pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi đánh bạc trái phép là nhằm đảm bảo tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội
Hành vi của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước và làm ảnh hưởng lớn đến trật tự trị an tại địa phương Vì vậy, c n áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm r n đe, giáo dục và phòng ngừa chung
Về hình phạt:
Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự
Về tình tiết t ng nặng: Các bị cáo không có tình tiết t ng nặng
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thật thà khai báo, n n n hối cải; các bị cáo đều mới phạm tội l n đ u và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự Ngoài ra, các bị cáo đều thuộc thành ph n lao động nghèo, là lao động chính trong gia đình, riêng bị cáo T hiện đang mắc bị bệnh đái tháo đường và bệnh phụ nữ, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Tuy nhiên, vai trò, mức độ tham gia, tính nguy hiểm cho xã hội của từng bị cáo trong đồng phạm là khác nhau C n cứ mục 13 của Công v n số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 hướng dẫn về việc áp dụng khung và mức hình phạt để cá thể hóa hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ; số tiền tham gia đánh bạc và nhân thân từng bị cáo Cụ thể:
[3 1] Đối với bị cáo Nguyễn Thị U, bị cáo U sử dụng số tiền 20 000 000 đồng để đánh bạc, thủ cái sát phạt với các con bạc, là người có vai trò chính yếu trong đồng phạm Bị cáo đã câu kết với Huỳnh V n C1 tham gia đánh bạc được thua bằng tiền nhiều l n tại địa bàn An Phú, xét c n áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo; r n đe và phòng ngừa chung
[3 2] Đối với các bị cáo Nguyễn Thị Thùy T, Nguyễn Thị H, Trương Thị C là những người tham gia đặt cược; số tiền đánh bạc nhỏ (T 3 000 000 đồng, H 1 114 000 đồng, C 992 000 đồng), là những người có vai trò thứ yếu; mới phạm tội l n đ u; có nơi cư trú rõ ràng Xét không c n thiết áp dụng hình phạt cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo tự cải tạo, lao động dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng có thể đảm bảo việc r n đe, phòng ngừa
Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị về mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát đối với từng bị cáo là có c n cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận
Về trách nhiệm của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
[4 1] Hành vi làm vĩ chung chi của Phan Bảo T2 và hành vi tham gia đặt cược của Lý Thị Tú A là hành vi giúp sức và hành vi tham gia đánh bạc trái phép. Xét T2 chỉ làm vĩ một ván, Tú A đặt cược nhỏ (mỗi ván 10 000 đồng, đặt 3 ván) và đã tự ngưng tham gia trước khi bị bắt quả tang nên Cơ quan Điều tra không xử lý hình sự đối với T2 và Tú A là có c n cứ Tuy nhiên, hành vi của T2 và Tú A là hành vi vi phạm pháp luật, c n xử lý hành chính để đảm bảo công tác phòng ngừa, sự nghiêm minh của pháp luật Kiến nghị Công an huyện An Phú quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với Phan Bảo T2 và Lý Thị Tú A.
[4 2] Đối với Huỳnh V n C1 có hành vi rủ rê, lôi kéo bị cáo U đến An Phú đánh bạc Theo lời khai của bị cáo U và một số người khác thì C1 có nhận chia tiền bảo từ bị cáo U vào ngày 06/5/2020 là 300 000 đồng Ngày 07/5/2020 thì C1 có điện thoại gọi bị cáo U đến An Phú lắc tài xỉu Tuy nhiên quá trình điều tra chưa điều tra làm rõ Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ hành vi và vai trò của Huỳnh V n C1 trong đồng phạm để xử lý theo quy định
Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo thuộc thành ph n lao động nghèo, hoàn cảnh kinh tế khó kh n, mới phạm tội l n đ u, nên thống nhất đề nghị của Viện kiểm sát, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo
Về xử lý vật chứng: Vật chứng còn lại gồm: ố tiền 35 208 000 (ba mươi l m triệu hai tr m lẽ tám nghìn) đồng; 01 tấm nhựa ghi chữ “Tài”, “Xỉu”, 01 đĩa sành, 01 nắp nhựa, 06 hột xí ng u, 01 điện thoại di động, được xử lý như sau:
- Đối với số tiền 35 208 000 đồng (ba mươi l m triệu hai tr m lẽ tám nghìn) đồng Trong đó, tiền thu tại chiếu bạc và trên người các bị cáo là 34 878 000 đồng; thu của Lý Thị Tú A 30 000 đồng; Huỳnh V n C1 nộp lại 300 000 đồng được xác định là tiền sử dụng đánh bạc và tiền liên quan đến việc đánh bạc, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước
- Đối với tấm nhựa ghi chữ “Tài”, “Xỉu”, đĩa sành, nắp nhựa, 06 hột xí ng u là dụng cụ sử dụng vào việc đánh bạc Xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy
- Đối với điện thoại di động là tài sản của cá nhân bị cáo U, xác định không liên quan tội phạm, nên trả lại cho bị cáo U.
Về chi phí tố tụng:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm;
Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không phải chịu các chi phí tố tụng khác
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị U (L), Nguyễn Thị Thùy T, Nguyễn Thị H, Trương Thị C đồng phạm tội: “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt:
2 1 C n cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự n m 2015 ( được sửa đổi, bổ sung n m 2017),
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị U (Liên) 01 (một) n m tù Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ 06 (sáu) ngày (từ ngày 07/5/2020 đến 13/5/2020)
2 2 C n cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017),
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy T 12 (mười hai) tháng Cải tạo không giam giữ nhưng được khấu trừ 06 (sáu) ngày bị tạm giữ (từ ngày 07/5/2020 đến 13/5/2020) Thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ còn lại của bị cáo T là 11 (mười một) tháng 12 (mười hai) ngày tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án
Giao bị cáo Nguyễn Thị Thùy T cho Ủy ban nhân dân thị trấn An Phú, huyện An Phú, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt
2 3 C n cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017),
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ nhưng được khấu trừ 06 (sáu) ngày bị tạm giữ (từ ngày 07/5/2020 đến 13/5/2020) Thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ còn lại của bị cáo H là 08 (tám) tháng 12 (mười hai) ngày tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án
Giao bị cáo Nguyễn Thị H cho Ủy ban nhân dân xã Phước Hưng, huyện An Phú, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt
2 4 C n cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017),
Xử phạt bị cáo Trương Thị C 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ nhưng được khấu trừ 06 (sáu) ngày bị tạm giữ (từ ngày 07/5/2020 đến 13/5/2020) Thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ còn lại của bị cáo C là 08 (tám) tháng 12 (mười hai) ngày tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án
Giao bị cáo Trương Thị C cho Ủy ban nhân dân thị trấn An Phú, huyện An Phú, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt
Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Nguyễn Thị Thùy T, Nguyễn Thị H, Trương Thị C trong thời gian chấp hành án
Các bị cáo Nguyễn Thị Thùy T, Nguyễn Thị H, Trương Thị C thực hiện các nghĩa vụ chấp hành án được quy định tại Điều 99 Luật Thi hành án hình sự n m 2019; trường hợp vắng mặt tại nơi cứ trú, thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự n m 2019
3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
C n cứ các điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự n m 2015 (được sửa đổi, bổ sung n m 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự n m 2015,
3 1 Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) tấm nhựa ghi chữ “Tài-Xỉu”; 01 (một) đĩa sành; 01 (một) nắp nhựa; 06 (sáu) hạt xí ng u
3 2 Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 35 208 000 (ba mươi l m triệu hai tr m lẽ tám nghìn) đồng.
3 3 Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị U 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu vàng đã qua sử dụng
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/9/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Phú và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú; Biên lai thu tiền số AA/2017/0000644 ngày 29/9/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện An Phú).
4. Về án phí:
C n cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự n m 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 n m 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc:
- Bị cáo Nguyễn Thị U (L) phải chịu 200 000 (Hai tr m nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm
- Bị cáo Nguyễn Thị Thùy T phải chịu 200 000 (Hai tr m nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm
- Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200 000 (Hai tr m nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm
- Bị cáo Trương Thị C phải chịu 200 000 (Hai tr m nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm
5. Về quyền kháng cáo:
C n cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự n m 2015,
Án tuyên công khai có mặt các bị cáo Nguyễn Thị U, Nguyễn Thị Thùy T, Nguyễn Thị H, Trương Thị C Thời hạn kháng cáo của các bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/10/2020).
Thời hạn kháng cáo của Huỳnh V n C1, Phan Bảo T2, Lý Thị Tú A là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết
(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).
| Nơi nhận: - VK ND tỉnh An Giang (1); - TAND tỉnh An Giang (1); - ở Tư pháp tỉnh An Giang (1); - VK ND huyện An Phú(1); - NTG Công an huyện An Phú (1); - THA D huyện An Phú (1); - Bộ phận THAH Tòa án (4); - UBND cấp xã nơi b/c cư trú (4); - Bị cáo (4); - Người liên quan (3); - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu v n phòng . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Sáu |