- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Nguyễn Thanh P phạm tội "Hủy hoại rừng" - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh P. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2020/HS-ST ngày 07 tháng 01 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật ình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2020/HS-PT Ngày: 08/5/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thái Sơn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Việt
Ông Trần Đức Long.
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Xuân Thủy - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2020/TLPT-HS ngày 11/02/2020 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2020/HS-ST ngày 07 tháng 01 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thanh P; sinh ngày 10 tháng 01 năm 1965 tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: Thôn V, xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ng Nguyễn u N ch t và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1926; có vợ Nguyễn Thị , sinh năm 1969 và 04 đứa con đứa lớn sinh năm 1989, đứa nhỏ sinh năm 1996 ; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo kh ng bị bắt tạm giam gi ngày nào, hiện tại ngoại có mặt có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra vụ án còn có 01 bị cáo khác và người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên Toà án không triệu tập tham gia phiên toà phúc thẩm
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vì muốn lấy đất canh tác nên Nguyễn Thanh P nói với vợ là Nguyễn Thị vào khu vực rừng khoanh nu i tại khoảnh 1, tiểu khu NTK2 khu vực rừng C chặt phá cây lấy đất xản xuất. Ngày 24/3/2019 Nguyễn Thanh P và Nguyễn Thị H cầm theo rìu và rựa vào diện tích rừng khoanh nu i tại khoảnh 1, tiểu khu NTK2 khu vực rừng C thuộc địa giới hành chính xã X, huyện B chặt phá cây rừng. Đ n ngày 27/3/2019 thì bị ạt kiểm lâm B và Ủy ban nhân dân xã X phát hiện lập biên bản. Tại k t luận giám định số 563/KLGĐ - KL ngày 21/5/2019 và c ng văn số 1178/KL - TTPC của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình k t luận: Khu vực rừng bị chặt phá thuộc khoảnh 1, tiểu khu NTK2 có tọa độ X=511195; Y=1951156, chức năng rừng sản xuất. Chủ thể quản lý là Ủy ban nhân dân xã X đã giao cho hộ gia đình Nguyễn Thanh P bảo vệ nhưng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích rừng bị bị chặt phá là 10.090m2, trử lượng rừng trên diện tích bị chặt phá là 21,080m3/ha, thiệt hại về lâm sản gỗ từ nhóm IV đ n nhóm VIII, số lượng 87 lóng với khối lượng 25,604m3.
Tại k t luận định giá số 62/KL - ĐĐGTS ngày 30/11/2019 của ội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự k t luận số lượng lâm sản bị thiệt hại trị giá 58.439.200 đồng (Năm mươi tám triệu, bốn trăm ba mươi chín nghìn, hai trăm đồng).
Vật chứng vụ án: ạt kiểm lâm B đã thu gi một cái rìu lưỡi bằng sắt dài 16cm, bề rộng lưỡi nơi lớn nhất 7cm, hẹp nhất 5cm, cán bằng gỗ dạng tròn dài 90cm, cán phụ làm bằng gỗ dạng hộp dài 60cm; Cơ quan CSĐT c ng an huyện Bố Trạch đã thu gi 01 cây rựa dài 90cm, lưỡi làm bằng sắt dài 38cm, bề rộng lưỡi nơi lớn nhất 4,5cm nơi hẹp nhất 2,5cm, phần cán làm bằng gỗ, hình trụ dài 52cm, đường kính 2,5cm.
Riêng khối lượng lâm sản gỗ từ nhóm IV đ n nhóm VIII, số lượng 87 lóng với khối lượng 25,604m3 đã được ạt kiểm lâm huyện B lập biên bản thu gi và bàn giao cho U ban nhân dân xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình quản lý, bảo quản chờ xử lý.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm các bị cáo đã tự nguyện nộp mỗi người 5.000.000đ năm triệu đồng để bồi thường trách nhiệm dân sự.
Bản Cáo trạng số 92/CT - VKSBT ngày 30/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh P và Nguyễn Thị về tội
u hoại rừng theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 Bộ luật hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2020/HS-ST ngày 07/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch đã quyết định:
Căn c điﱢm đ khoản 2 Điﱠu 243; các điﱢm b, s khoản 1, khoản 2 Điﱠu 51 và Điﱠu 54 Bộ luật Hình sự đối v i các bị cáo Nguy n Thanh P và Nguy n Thị H; Căn c Điﱠu 65 Bộ luật Hình sự đối v i bị cáo Nguy n Thị H; điﱢm a khoản 1 Điﱠu 47, Điﱠu 48 Bộ luật Hình sự và Điﱠu 106, Điﱠu 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điﱢm đ khoản 1 Điﱠu 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của U﴿ ban Thường vụ Quốc Hội 14 quy định vﱠ án phí, lệ phí Tòa án; các Điﱠu 584, Điﱠu 585, Điﱠu 587 và Điﱠu 589 Bộ luật Dân sự.
- Vﱠ tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguy n Thanh P và Nguy n Thị H phạm tội “Hu﴿ hoại r ng”.
- Vﱠ hình phạt: X phạt:+ Nguy n Thanh P 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính t ngày bị cáo chکp hành án.
+ Nguy n Thị H 12 (mười hai) tháng tù cho hư ng án treo, thời gian th thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính t ngày tuyên án sơ thẩm (07/01/2020).
Trong thời gian th thách, người đư c hư ng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lﮐn tr lên thì Toà án có thﱢ quyết định buộc người đư c hư ng án treo phải chکp hành hình phạt tù của bản án đã cho hư ng án treo.
Giao bị cáo Nguy n Thị H cho y ban nhân dân xã X, huyện B, t nh Quảng Bình đﱢ giám sát và giáo dục trong thời gian th thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối h p v i chính quyﱠn địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường h p người đư c hư ng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
- Vﱠ vật ch ng vụ án: Tịch thu tiêu hu﴿ một cái rìu lư i b ng s t dài 16cm, bﱠ rộng lư i nơi l n nhکt 7cm, h p nhکt 5cm, cán b ng g dạng tròn dài 90cm, đường kính nơi l n nhکt 04cm, đường kính nơi nh nhکt 02cm, đﮐu l n có l v i kích thư c 03cm x 01cm x 04cm, có hai vòng s t bản rộng 01cm, đường kính 04cm n m hai đﮐu l; cán phụ làm b ng g dạng hộp dài 60cm, bﱠ rộng nơi l n nhکt 04cm, bﱠ rộng nơi h p nhát 01cm, bﱠ dày nơi lư n nhکt 02 cm, nơi h p nhکt 01 cm; 01 cây rựa dài 90cm, trong đó gồm phﮐn cán và phﮐn lư i. Phﮐn lư i làm b ng s t dài 38cm, ơi rộng nhکt 4,5cm, nơi h p nhکt 2,5cm, nơi dày nhکt 0,4cm, phﮐn cán làm b ng g, hình trụ dài 52cm, đường kính 2,5cm. Trên phﮐn cán đoạn nối v i phﮐn lư i rựa có 03 vòng s t hình tròn, có kích thư c cụ thﱢ tính t phﮐn lư i rựa tr xuống như sau: Vòng một có vanh 9,8cm, vòng hai có vanh 10,3cm, vòng ba có vanh 10,5cm, vòng một cách vòng hai 0,8cm, vòng hai cách vòng ba 0,8cm là công cụ thực hiện hành vi phạm tội khi án có hiệu lực pháp luật.
Số vật ch ng này hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự theo biên bản giao nhận vật ch ng gi a Cơ quan Cảnh sát điﱠu tra Công an huyện Bố Trạch và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch đư c lập ngày 26/12/2019.
Giao cho Hạt Kiﱢm lâm huyện B, t nh Quảng Bình khối lư ng lâm sản g t nhóm IV đến nhóm VIII, số lư ng 87 lóng v i khối lư ng 25,604m3 x lý theo quy định của pháp luật.
- Trách nhiệm dân sự: Buộc Nguy n Thanh P và Nguy n Thị H có trách nhiệm liên đ i bồi thường thiệt hại đﱢ nộp vào ngân sách Nhà nư c, cụ thﱢ theo phﮐn bị cáo Nguy n Thanh P phải chịu 38.959.467đ, bị cáo Nguy n Thị H phải chịu 19.479.733đ. Hiện nay mi bị cáo đã nộp 5.000.000đ đﱢ bồi thường, như vậy số tiﱠn mi bị cáo phải nộp tiếp, cụ thﱢ: Nguy n Thanh P là 33.959.467đ, Nguy n Thị H là 14.479.733đ.
Trường h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điﱠu 2 Luật thi hành án dân sự s a đổi bổ sung năm 2014 thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyﱠn th a thuận thi hành án, quyﱠn yêu cﮐu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điﱠu 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điﱠu 30 Luật thi hành án dân sự s a đổi, bổ sung năm 2014.
- Vﱠ án phí: Mi n án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm cho các bị cáo Nguy n Thanh P và Nguy n Thị H.
Bản án còn tuyên quyﱠn kháng cáo đối v i bị cáo theo quy định của pháp luật.
Trong hạn luật định, ngày 13/01/2020 bị cáo Nguyễn Thanh P nộp đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền c ng tố xét xử phúc thẩm vụ án đề nghị ội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 243; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật ình sự: chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh P, sửa bản án sơ thẩm nhưng gi nguyên mức hình phạt 15 tháng tù và cho bị cáo được hưởng án treo; đề nghị ội đồng xét xử xác định lại tư cách tham gia tố tụng của UBND xã X là bị hại chứ kh ng phải là nguyên đơn dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh P đã khai nhận tất cả hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan điều tra. Gia đình bị cáo được UBND huyện B cấp 01 l đất tại Khu A để trồng rừng và khoanh nu i bảo vệ, ngày 22/3/2019 bị cáo P kiểm tra rừng thì thấy bà Nguyễn Thị 1 phát và thuê một số người phát cạnh l rừng của bị cáo, do thi u suy nghĩ nên bị cáo đã cùng với vợ lên phát l đất của hộ gia đình bị cáo được giao để trồng rừng thì bị lực lượng chức năng phát hiện và điều tra xử lý. Tại k t luận giám định số 563/KLGĐ - KL ngày 21/5/2019 và C ng văn số 1178/KL - TTPC của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình k t luận: Khu vực rừng bị chặt phá thuộc khoảnh 1, tiểu khu NTK2 có tọa độ X=511195; Y=1951156, chức năng rừng sản xuất. Chủ thể quản lý là Ủy ban nhân dân xã X đã giao cho hộ gia đình Nguyễn Thanh P bảo vệ nhưng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích rừng bị bị chặt phá là 10.090m2, tr lượng rừng trên diện tích bị chặt phá là 21,080m3/ha, thiệt hại về lâm sản gỗ từ nhóm IV đ n nhóm VIII, số lượng 87 lóng với khối lượng 25,604m3. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để xác định Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2020/HS-ST ngày 07 tháng 01 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch quy t định: bị cáo Nguyễn Thanh P và đồng phạm đã phạm tội " ủy hoại rừng" theo điểm đ khoản 2 Điều 243 của Bộ luật ình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật;
Trong vụ án này Tòa án cấp sơ thẩm xác định nguyên đơn dân sự là UBND xã X, tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát đề nghị xác định UBND xã X là bị hại, ội đồng xét xử thấy tuy mặc dù kh ng có kháng cáo, kháng nghị nhưng việc xác định tư cách tham gia tố tụng của UBND xã X là bị hại hay nguyên đơn dân sự kh ng ảnh hưởng gì đ n quyền lợi của đương sự, bởi cơ quan được giao quản lý nhà nước về rừng là UBND xã X sau khi xét xử sơ thẩm kh ng có kháng cáo, điều đó có nghĩa là đồng tình với quy t định của Bản án sơ thẩm về phần bồi thường dân sự, nên kh ng cần thi t phải sửa Bản án sơ thẩm mà cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
. Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo P và vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo và các tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự, ội đồng xét xử thấy: bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi, bị cáo được nhà nước giao đất để trồng rừng và bảo vệ, l ra bị cáo phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên môi trường, tài nguyên quốc gia, tài sản của nhà nước, nhưng ngược lại do hám lợi nên bị cáo đã chặt phá, hu hoại lâm sản trái phép. ành vi của các bị cáo được thực hiện với l i cố ý trực ti p, làm ảnh hưởng xấu đ n m i trường sinh thái và tài nguyên rừng, gây dư luận kh ng tốt trong nhân dân. ành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, do vậy cần phải xét xử với mức án nghiêm mới có tác dụng cải tạo giáo dục các bị cáo đồng thời răn đe phòng ngừa chung về loại tội phạm này. Bị cáo cùng với vợ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhưng kh ng có dấu hiệu có t chức mà đồng phạm giản đơn, tuy nhiên trong vụ án này bị cáo vừa là người khởi xướng vừa là người thực hiện hành vi nên án sơ thẩm xác định bị cáo chịu trách nhiệm với vai trò chính là đúng pháp luật.
Bị cáo phạm tội kh ng có tình ti t tăng nặng, có các tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: đã tự nguyện s a ch a bồi thường thiệt hại, thật thà khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội, bố mẹ bị cáo là người có c ng được nhà nước tặng thưởng huân huy chương kháng chi n quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật ình sự. Do bị cáo nhiều tình ti t giảm nhẹ nên án sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 Bộ luật ình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật là phù hợp, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tình ti t giảm nhẹ mới là đã nộp đầy đủ khoản tiền phải bồi thường theo quy t định của bản án sơ thẩm vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, hơn n a bị cáo có quá trình nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, bị cáo lu n chấp hành tốt các quy định của pháp luật, có nơi cư trú rõ ràng được UBND xã X xác nhận và đề nghị Tòa án xem xét, xét thấy kh ng cần thi t phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, bị cáo có khả năng tự cải tạo được, với nh ng nhận định trên ội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm về hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
Các quy t định khác của Bản án sơ thẩm kh ng có kháng cáo, kh ng bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
.Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo kh ng phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh P. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2020/HS-ST ngày 07 tháng 01 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình về phần hình phạt.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 243; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65 của Bộ luật ình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 15 mười lăm tháng tù về tội " ủy hoại rừng" cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 08/5/2020).
Giao bị cáo Nguyễn Thanh P cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luât về thi hành án hình sự;
"Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quy t định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo".
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh P kh ng phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quy t định khác của Bản án sơ thẩm kh ng có kháng cáo, kh ng bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày h t thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (08/5/2020).
| Nơi nhận - Vụ GĐKT I- TANDTC; - TAND huyện Bố Trạch; - Chi cục T ADS h.Bố Trạch; - C ng an h. Bố Trạch; - Phòng HSNVCS CAQB; - Sở Tư pháp Quảng Bình; - UBND xã X; - Bị cáo; - Lưu ồ sơ, Tòa S, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA- VKSND tỉnh Quảng Bình; (đã ký) Nguyễn Thái Sơn |