- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN HUYỆN!H! TỈNH!BÌNH!PHƯỚC! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2020/HNGĐ-ST Ngày: 12-02-2020 V/v ly hôn |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!H,!TỈNH!BÌNH!PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Văn Hồng
2. Bà Trương Thị Ngọc Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lan – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 415/2019/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2019 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXX-ST ngày 15 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị C, sinh năm 1976. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm: 1976. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ 5, ấp X, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Lê Thị C trình bày:
Chị C và anh Nguyễn Văn Dquen biết nhau năm 1993, đến năm 1994 thì về chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Hai vợ chồng sống hạnh phúc được 01 năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh D thường xuyên ghen tuông vô cớ rồi về đánh đập chị C. Do các con còn nhỏ nên chị C nhún nhường, tạo điều kiện cho anh D thay đổi để cùng lo cho con cái nhưng đến thời điểm hiện nay, khi con cái đã lớn mà anh D vẫn không thay đổi. Chị C thấy mẫu thuẫn ngày càng nghiêm trọng, cuộc sống chung của vợ chồng không có hạnh phúc, không thể kéo dài được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị C được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
Về con chung: Chị C và anh D có 02 người con chung là Nguyễn Thị N– sinh năm 1995 và Nguyễn Thị H, sinh năm 2001. Do các con đều đã đủ 18 tuổi nên chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: chị C yêu cầu để tự các bên thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: chị C khai hai vợ chồng không có nợ ai cũng không cho ai vay nợ.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 15/11/2019, bị đơn anh Nguyễn Văn D trình bày:
Thống nhất với lời khai của chị Lê Thị C về thời gian chung sống, con chung, nợ chung. Tuy nhiên, theo anh D thì cuộc sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn nhưng chị C yêu cầu ly hôn thì anh D đồng ý lý hôn.
Về tài sản chung: anh D khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tại phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thựa hiện đầy đủ, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình và bị đơn đã có đơn xin vắng mặt.
Về nội dung: Bà C, ông D chung sống với nhau năm 1994, không có đăng ký kết hôn là vi phạm theo quy định tại điều 9 và điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 2, chương I, Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của Chính Phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận bà Lê Thị C và ông Nguyễn Văn D là vợ chồng.
Về con chung: Các con đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu nên đề nghị không giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: nguyên đơn không yêu cầu nên đề nghị không giải quyết.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị C khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn D cư trú tại ấp X, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Tòa án xác định đây là vụ án về ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
Anh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt. Tòa án quyết định giải quyết vắng mặt anh D theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị C thấy rằng:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của anh D tại biên bản lấy lời khai ngày 15/11/2019 cũng như lời khai của chị D trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa thấy rằng: anh D và chị C tự nguyên chung sống với nhau từ năm 1994, mặc dù có đủ điều kiện kết hôn nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và hướng dẫn tại điểm b mục 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000, Điều 2 Nghị định 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của Chính phủ thì trường hợp này không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Chị C yêu cầu ly hôn và anh D đồng ý ly hôn nên không công nhận chị C và anh D là vợ chồng.
Về con chung: Chị C và anh D đều thừa nhận có 02 con chung là Nguyễn Thị N– sinh năm 1995 và Nguyễn Thị H, sinh năm 2001. Do các con đều trên 18 tuổi, chị C, anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản chung: chị C và anh D cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Nợ chung: Chị C và anh D đều khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí:
Nguyên đơn chị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
[1]. Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 11, 85, 87 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;
Căn cứ điểm b mục 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội.
Căn cứ Điều 2 Nghị định 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của Chính phủ.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[2]. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị C.
Về quan hệ hôn nhân: không công nhận chị Lê Thị C và anh Nguyễn Văn D là vợ chồng.
Về con chung: 02 con chung đều trên 18 tuổi, các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: đương sự khai không có nên không xem xét giải quyết
5. Về án phí: Chị Lê Thị C phải chịu án phí hôn nhân là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị C đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001611 ngày 07/10/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bình Phước.
5. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - Các đương sự; - UBND xã T, huyện H; - Lưu HS; | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TOÀ! Nguyễn!Thị!Minh!Hải! |