vanban.org

Bản án 49/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Dương Văn T phải chịu 36.338.190 (Ba mươi sáu triệu ba trăm ba mươi tám nghìn một trăm chín mươi) đồng. Ông Phan Văn T được nhận lại 18.350.000 (Mười tám triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002888 ngày 12/12/2019 tại Chi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Thảo - Thua"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VỊ THANH
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2020/DS-ST.
Ngày 28 – 5 – 2020.
V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Như Nguyện.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Hoàng Phúc.

Bà Trần Thị Hoàng Dung.

- Thư ký phiên toà: Bà Trương Thị Ngọc Dung. Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 28 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vị Thanh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 192/2019/TLST – DS, ngày 12 tháng 12 năm 2019, về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST – DS, ngày 04 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2020/QĐST – DS ngày 13 tháng 3 năm 2020 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án số 98/TB-TA ngày 25/3/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phan Văn T.

Địa chỉ: Khu vực 2, phường V, thành phố Vị Thanh, Hậu Giang.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Nguyễn Hùng L. Địa chỉ: Khu vực 1, phường III, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Dương Văn T.

Địa chỉ: Khu vực 5, phường V, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện gửi Tòa án và trong quá trình xét xử vụ án, nguyên đơn ông Phan Văn T do anh Nguyễn Hùng L đại diện trình bày: Do quen biết trước nên vào ngày 20/7/2018, ông Dương Văn T có vay của ông Phan Văn T số tiền 730.000.000 đồng, có làm biên nhận, lãi suất thoả thuận 1%/tháng, hẹn trong vòng 03 tháng sẽ trả nợ nhưng đến nay ông Dương Văn T vẫn không thực hiện việc trả tiền nợ. Kèm theo đơn khởi kiện ông Phan Văn T có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đối với ông Dương Văn T và được Tòa án chấp nhận áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 05/2019/QĐ-BPKCTT, ngày 13/12/2019. Nay ông Phan Văn T do anh Nguyễn Hùng L đại diện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Dương Văn T phải trả số tiền vay còn nợ là 730.000.000 đồng và tính lãi suất 1%/tháng số tiền nêu trên từ ngày 20/7/2018 đến khi xét xử sơ thẩm.

Tại phiên tòa, anh Nguyễn Hùng L thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Yêu cầu ông Dương Văn T phải có trách nhiệm trả số tiền vay còn nợ là 730.000.000 đồng và tính lãi suất với mức lãi 0,5%/tháng, kể từ ngày 20/7/2018 đến ngày 28/5/2020.

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn là ông Dương Văn T trình bày: Ông có ký biên nhận nợ cho ông Phan Văn T với số tiền 730.000.000 đồng như nêu trên, nhưng số tiền này là số nợ tạm tính giữa ông với ông T. Sau khi ký biên nhận trên ông có chơi nhiều dây hụi do ông T làm chủ để trừ nợ nhưng chưa được khấu trừ. Hiện nay ông cũng không xác định được chính xác số tiền ông còn nợ ông T là bao nhiêu, nhưng ông T không gặp ông để thoả thuận lại số nợ mà đem biên nhận đi khởi kiện. Ông T yêu cầu ông T gặp ông để thoả thuận lại số nợ.

Tại phiên toà, ông Dương Văn T đồng ý trả số tiền nợ là 730.000.000 đồng theo biên nhận mà ông T đã khởi kiện và đồng ý tính lãi theo mức 0,5%/tháng từ ngày 20/7/2018 đến ngày 28/5/2020 như người đại diện của ông T yêu cầu. Nhưng yêu cầu cho thêm thời gian và được trả nợ làm nhiều lần.

Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn ông Phan Văn T có nộp cho Tòa án biên nhận nợ tiền của bị đơn ông Dương Văn T lập ngày 20/7/2018, với số tiền nợ là 730.000.000 đồng. Ông Dương Văn T không có giao nộp tài liệu chứng cứ gì cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Ông Phan Văn T khởi kiện ông Dương Văn T cho rằng ông Thua vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền nợ vay theo biên nhận nợ nên Tòa xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Dương Văn T có nơi cư trú khi xác lập giao dịch tại khu vực 5, phường V, thành phố Vị Thanh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Dương Văn T có vay của ông Phan Văn T số tiền 730.000.000 đồng vào ngày 20/7/2018, có làm biên nhận, thoả thuận lãi suất 1%/tháng, thời hạn vay 03 tháng là sự việc có thật, do được bị đơn là ông Dương Văn T thừa nhận tại phiên toà. Sau khi vay tiền ông T không thực hiện đúng thoả thuận trả nợ là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Nay ông Phan Văn T khởi kiện yêu cầu ông Dương Văn T trả nợ theo biên nhận. Tòa án cũng đã tạo điều kiện cho các đương sự hòa giải để trình bày và thỏa thuận với nhau về số tiền nợ nhưng ông Dương Văn T đều vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Tại phiên toà ông Dương Văn T cũng đồng ý trả số tiền nợ theo biên nhận cho ông Phan Văn T, nên Hội đồng xét xử xác định việc khởi kiện của ông Phan Văn T là có căn cứ chấp nhận.

Về phần lãi suất: Tại phiên toà anh Nguyễn Hùng L đại diện cho ông Phan Văn T yêu cầu tính lãi suất trên số tiền 730.000.000 đồng, với mức lãi 0,5%/tháng, kể từ ngày 20/7/2018 đến ngày 28/5/2020. Ông Dương Văn T cũng đồng ý cách tính lãi nêu trên. Xét việc đồng ý cách tính lãi nêu trên của hai bên là trên cơ sở tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật và có lợi cho bị đơn là ông Dương Văn T nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Cách tính như sau:

730.000.000 đồng x 0,5%/tháng x 668 ngày (từ ngày 20/7/2018 đến 28/5/2020) = 81.273.000 đồng.

Như vậy, ông Dương Văn T phải có trách nhiệm trả cho ông Phan Văn T số tiền còn nợ tổng cộng là 811.273.000 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị đơn phải chịu. Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 26, 35, 39, 91, 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Các điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015.

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Dương Văn T phải có trách nhiệm trả cho ông Phan Văn T số tiền vay còn nợ tổng cộng là 811.273.000 (Tám trăm mười một triệu hai trăm bảy mươi ba nghìn) đồng. Trong đó: Tiền nợ gốc là 730.000.000 đồng; tiền lãi là 81.273.000 đồng

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Dương Văn T phải chịu 36.338.190 (Ba mươi sáu triệu ba trăm ba mươi tám nghìn một trăm chín mươi) đồng. Ông Phan Văn T được nhận lại 18.350.000 (Mười tám triệu ba trăm năm mươi nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002888 ngày 12/12/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thoả thuận hoặc theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Tiếp tục duy trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 05/2019/QĐ-BPKCTT, ngày 13 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

5. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ