- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Xuyến-Hùng"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Ông Lý Văn H1, Bà Hoàng Thị A.
- Căn cứ chính? Điều 254 Bộ luật Dân sự; Điều 308 Bộ luật T t ng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án s : 49/2020/DS-PT Ngày: 23 - 4-2020 V/v tranh chấp yêu cầu m l i đi qua bất động sản liền kề |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Bà Đinh Thị Quý Chi
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Thanh Thảo
Bà Lê Hồng Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phướctham gia phiên tòa: Ông Cao Thanh Nam- Kiểm sát viên.
Ngày 23tháng 4 năm 2019 tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tiến hành t ử phúc thẩm công khai v án dân sự th lý s 24/2020/TLPT-DS ngày 24/02/2020 về việc“Tranh chấpvề yêu cầumở lối đi qua bất động sản liền kề”. Do Bản án dân sự sơ thẩm s 66/2019/DS-ST ngày 24/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện B bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra xét xử s 57/2020/QĐ-PT ngày 10tháng 3năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa s 27/2020/QĐ-PT ngày 25/3/2020, gi a các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Vi Thị X sinh năm 1971 (có mặt)
Ông Vi Văn H sinh năm 1964(có mặt) Cùng địa chỉ: Thôn 8, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước
2. Bị đơn: Ông Lý Văn H1 sinh năm 1979(có mặt)
Bà Hoàng Thị A sinh năm 1980(có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn 11, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
3. Người kháng cáo: Bị đơn Ông Lý Văn H1, Bà Hoàng Thị A .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Bà Vi Thị X , Ông Vi Văn H thống nhất trình bày:
Năm 2007 vợ chồng ông bà có nhận chuyển nhượng lại diện tích đất khoảng 1,8 ha tọa lạc tại Thôn 8, xã T, huyện B của ông Vi Văn Đại, tài sản trên đất là cây cà phê và điều đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất, khi bàn giao đất cho vợ chồng ông thì ông Đại có giao lại cho vợ chồng ông một giấy bàn giao đường đề ngày 07/3/2000 có nội dung: 07 hộ dân đã góp s tiền 350.000đ để trả cho ông Lý Tiến Siều là hộ có đất phía ngoài giáp đường lộ tiền công khai phá để lấy diện tích đất 01m làm đường đi chung của 07 hộ dân có rẫy phía trong; 07 hộ dân gồm ông Vi Văn Đại; Lăng Văn Thi; Lý Văn Vịnh; Lý Văn Thành; Vi Văn Ánh; Lý Văn Hóa; Nguyễn Văn Chung (sau này sang nhượng lại đất cho vợ chồng ông H1, bà A). Do con đường nhỏ chỉ có 01m chiều dài khoảng 400m nên các hộ có góp tiền mua thêm 02m chiều dài 400m của ông Lý Tiến Siều, phần đất 03m mua của ông Siều để làm l i đi chung của các hộ còn các hộ phía trong có thỏa thuận đi nhờ qua rẫy của nhau theo đó thửa đất của ông bà cũng đi nhờ qua các hộ dân có rẫy phía ngoài để vào rẫy của mình trong đó có đi qua rẫy của vợ chồng ông H1, bà A . Năm 2011 khi cơ quan đo đạc vào đo đạc dải thửa các thửa đất để cấp sổ lại không đo đạc con đường mà các hộ đã thỏa thuận đi nhờ qua rẫy của nhau năm 2014 trên con đường đi nhờ qua rẫy của hộ ông H1, bà A thì ông H1, bà A đã trồng cà phê ra l i đi này và hiện nay ông H1, bà A đã chắn l i không cho vợ chồng ông sử d ng để đi vào rẫy . Vợ chồng ông kh i kiện ra tòa án yêu cầu Tòa án công nhận l i đi mà vợ chồng ông đã sử d ng từ trước đến nay cho vợ chồng ông. Tuy nhiên quá trình giải quyết v án ông bà thay đổi yêu cầu kh i kiện c thể yêu cầu Tòa án m l i đi qua rẫy nhà ông H1, bà A, vị trí m l i đi bên phía giáp ranh với thửa đất của ông Cầu, bề rộng con đường yêu cầu là 03m, chiều dài hết đất của ông H1, bà A ông bà đồng ý bồi thường lại giá trị tài sản cho vợ chồng ông H1, bà A . Ngoài ra ông bà không có yêu cầu nào khác.
Bị đơn Ông Lý Văn H1, Bà Hoàng Thị A thống nhất trình bày:
Nguồn g c diện tích đất khoảng 03 ha tọa lạc tại thôn 11, xã Th ng Nhất, huyện B do khai phá mà có. Nguồn g c diện tích đất của ông H, bà X là của ông Lót (ông Tăng) sau đó bán cho ông Đại ông Đại bán cho ông H, bà X diện tích đất này khi ông Lót khai phá thì đi bằng đường từ su i qua và khi bán cho ông Đại ông Đại bán cho bà X, ông H thì vợ chồng ông bà vẫn tạo điều kiện cho vợ chồng bà Xuyến đi nhờ qua đất để canh tác, hiện khu vực đó không có con đường nào để đi nay bà Xuyến yêu cầu m l i đi qua đất nhà ông bà thì ông bà không đồng ý với lý do trước đây ông Lót khai phá thường sử d ng đi qua su i vào đất thì nay bà X, ông H cũng phải liên hệ lại con đường qua su i như trước đây chủ cũ đã sử d ng chứ việc m l i đi qua đất là gây thiệt hại cho ông bà do đó ông bà không đồng ý với yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 66/2019/DS-ST ngày 24/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện B đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn bà Vy Thị X , Ông Vi Văn H về việc: “Yêu cầu m l i đi qua bất động sản liền kề” đ i với bị đơn Ông Lý Văn H1, Bà Hoàng Thị A .
Buộc vợ chồng Ông Lý Văn H1, Bà Hoàng Thị A phải có nghĩa v m l i đi cho Ông Vi Văn H , bà Vy Thị X đi vào thửa đất s 36, tờ bản đồ s 63 như sau: Từ thửa đất s 22 cập với ranh của thửa đất s 28 đi vào thửa đất s 36 chiều rộng 03m, chiều dài bên thửa đất s 27 là 92,86m, chiều dài giáp ranh thửa đất s 28 là 98 68m để ông H, bà X đi qua (có sơ đồ đo vẽ ngày 12/6/2019 của Công ty TNHH –MTV đo đạc bản đồ và trắc địa công trình 401 kèm theo).
Buộc ông Vi Văn Hùng bà Vy Thị X bồi thường cho Ông Lý Văn H1, Bà Hoàng Thị A s tiền 17.674.000đ (Mười bảy triệu sáu trăm bảy mươi b n ngàn đồng).
Về hư ng quyền về l i đi qua bất động sản liền kề sẽ chấm dứt trong các trường hợp quy định tại Điều 256 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí các chi phí t t ng khác nghĩa v thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 03/01/2020 bị đơn Ông Lý Văn H1, Bà Hoàng Thị A kháng cáo một phần bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn ông H, bà X gi nguyên yêu cầu kh i kiện.
- Bị đơn ông H1, bà A gi nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật: Kể từ khi th lý v án đến thời điểm t ử phúc thẩm Thẩm phán và Hội đồng t ử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật t T ng Dân sự. Nh ng người tham gia t t ng chấp hành đúng các quy định của Bộ luật T t ng Dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng t ử căn cứ khoản 1 Điều 308Bộ luật T t ng Dân sự năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông H1, bà A gi nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ v án và kết quả tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ t c kháng cáo:Đơn kháng cáo của bị đơn Ông Lý Văn H1, Bà Hoàng Thị A làm trong thời gian luật định, hình thức và nội dung phù hợp các quy định củaBộ luật T t ng Dân sự năm 2015 nên cần xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2]Xét kháng cáo của bị đơn ông H1, bà A , Hội đồng xét xửthấy rằng:
[2.1] Theo sơ đồ đo vẽ và việc xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân huyện B thể hiện thì thửa đất s 36 của nguyên đơn vợ chồng ông Vi Văn H, Bà Vi Thị X có độ d c 45 đến 600 hướng xu ng su i, một mặt giáp su i và ba mặt đều bị thửa đất s 27, tờ bản đồ s 63 của gia đình bị đơn Ông Lý Văn H1, Bà Hoàng Thị A bao bọc. Để đi vào thửa đất s 36, ông H - bà X phải đi nhờ qua thửa đất s 27 và theo kết quả khảo sát, xem xét thẩm định ngoài việc đi nhờ qua thửa s 27 thì không còn l i đi nào khác để vào thửa 36 điều này cũng được các bên đương sự thừa nhận. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Điều 254 của Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn vềviệc buộc bị đơn phải m l i đi cho nguyên đơn là có căn cứ.
[2.2] Vị trí thửa đất s 27 theo bản đồ địa chính phía Bắc Nam và Đông không có đường trong khi đó phía Tây đã có con đường hiện h u, hiện các hộ dân phía ngoài đang sử d ng và con đường này được thể hiện trên bản đồ địa chính. Vì vậy, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn m l i đi tại vị trí giáp ranh với thửa đất s 28 của ông Cầu là có căn cứ b i lẽ việc m tại vị trí này là gây ít thiệt hại nhất cho bên bị đơn; hơn n a, tuy một phần l i đi cắt qua rẫy nhà bị đơn nhưng cả hai diện tích đất của bị đơn sau khi m đường bị chia làm hai đều đủ điều kiện về diện tích t i thiểu để được cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất theo Công văn s 1346/UBND –NC ngày 04/9/2014 của UBND huyện B . Do l i đi khi m phải cắt qua rẫy của bị đơn nên cần phải ác định l i đi được m là l i đi chung của ông H - bà X và ông H1 - bà A chứ không phải đây là l i đi của riêng ông H- bà X. Do đó yêu cầu kháng cáo của bị đơn về phần này không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Xét kháng cáo của bị đơn cho rằng việc m l i đi khiến đất của nhà bị đơn sẽ bị giảm trị giá xu ng khoảng 200 triệu nếu chuyển nhượng cho người khác. Tại phiên tòa, phía bị đơn không chứng minh được việc đất của mình sẽ bị giảm giá trị như trình bày và đây cũng không phải là căn cứ mà pháp luật quy định để buộc người được m l i đi phải bồi thường nên kháng cáo về phần này là không có căn cứ.
[2.4]Đ i với kháng cáo về giá trị bồi thường thiệt hại: Bị đơn ông H-bà A cho rằng trị giá phần đất ông bà phải m làm l i đi chung có trị giá khoảng 32.500.000
đồng nhưng cấp sơ thẩm chỉ buộc nguyên đơn bồi thường cho ông bà s tiền 17.674.000đồng là thiệt thòi cho ông bà.Hội đồng t ử thấy rằng: Tại biên bản em t thẩm định tại chỗ ngày 12/6/2019 bị đơn ông H1, bà A có mặt th ng nhất thỏa thuận đồng ý đưa ra giá đất và cây trồng trong đó nguyên đơn và bị đơn đã nhất trí giá 01ha đất có giá 600 triệu cây cà phê có giá 220.000 đồng/1 cây cây điều 218.000 đồng/1 cây. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã ác định nguyên đơn phải bồi thường cho bị đơn ông H- bà A s tiền 17.674.000đồng đ i với 287 3m2 đất để m l i đi và trị giá s cây trồng phải chặt bỏ trên đất m l i đi là phù hợp. Do đó kháng cáo về phần này là không được chấp nhận.
[2.5] Đ i với kháng cáo cho rằng việc m l i đi khiến đất bị đơn tách thành 02 thửa bị đơn phải t n thêm khoảng 10 triệu chi phí để làm thủ t c cấp quyền sử d ng đất cho 02 thửa thay vì chỉ mất 05 triệu chi phí làm thủ t c cấp giấy chứng nhận cho 01 thửa nên chỉ đồng ý m l i đi có chiều rộng 02m chứ không phải 03m như Tòa sơ thẩm ác định. Hội đồng t ử cho rằng yêu cầu này của bị đơn là không có căn cứ chấp nhận b i tại Tòa phía nguyên đơn gi nguyên quan điểm không đồng ý hỗ trợ một phần chi phí làm Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất cho bị đơn; đ i với chiều rộng con đường thì 03m là chiều rộng phù hợp để các bên có thể lưu thông trong quá trình canh tác sản uất.
[2.6] Từ nh ng phân tích trên thấy rằng kháng cáo của bị đơn là không có cơ s chấp nhận nên cần gi nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật T t ng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Ông Lý Văn H1, Bà Hoàng Thị A.
Gi nguyên Bản án dân sự sơ thẩm s 66/2019/DS-ST ngày 24/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Phước.
- Áp d ng khoản 2 Điều 26Bộ luật T t ng Dân sự;các Điều 245; 248; 254 và 256 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.
1. Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn Bà Vi Thị X , Ông Vi Văn H về việc “Yêu cầu m l i đi qua bất động sản liền kề” đ i với bị đơn Ông Lý Văn H1, Bà Hoàng Thị A .
Buộc vợ chồng Ông Lý Văn H1, Bà Hoàng Thị A phải có nghĩa v m l i đi cho Ông Vi Văn H , bà Vy Thị X đi vào thửa đất s 36, tờ bản đồ s 63 (với diện tích 287,3m2) như sau: Từ thửa đất s 22 cặp với ranh của thửa đất s 28 đi vào thửa đất s 36 chiều rộng 03m, chiều dài bên thửa đất s 27 là 92,86m, chiều dài giáp ranh thửa đất s 28 là 98 68m để ông H, bà X đi qua (Có sơ đồ đo vẽ ngày 12/6/2019 của Công ty TNHH –MTV đo đạc bản đồ và trắc địa công trình 401 kèm theo).
Buộc Ông Vi Văn H , Bà Vi Thị X bồi thường cho Ông Lý Văn H1, Bà Hoàng Thị A s tiền 17.674.000đ (mười bảy triệu sáu trăm bảy mươi b n ngàn đồng).
Về hư ng quyền về l i đi qua bất động sản liền kề sẽ chấm dứt trong các trường hợp quy định tại Điều 256 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông H1, bà A phải chịu 300.000đồng.
- Ông Vi Văn H và Bà Vi Thị X phải chịu 838.700đồng,khấu trừs tiền 300.000đồng tạm ứng án phí ông bà đã nộp theo biên lai thu tiền s 0009160, ngày 28/01/2019 tại Chi c c Thi hành án dân sự huyện B thì Ông Vi Văn H -Bà Vi Thị X còn phải nộp 538.700đồng.
3.Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn Ông Lý Văn H1 và Bà Hoàng Thị A phải chịu là 300.000 đồng,được khấu trừ s tiền 300.000 đồng ông bàđã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án s 0009995 ngày 03/01/2020của Chi c c thi hành án dân sự huyện B .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Phước; - TAND huyện B ; - CCTHADS huyện B ; - Các đương sự; - Lưu (HS THCTP, TDS). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đinh Thị Quý Chi |