- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Trí D phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đào Trí D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2019/HS-ST Ngày 24 - 4 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Chuyển
Ông Trần Xuân Lâm
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Việt Hưng - Thư ký tòa án Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Vũ Lê Hương - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 24 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đào Trí D; Sinh ngày: 24/07/1996 tại B, H; Giới tính: Nam ;Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn T, xã P g, huyện B, thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12 ; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Con ông: Đào Hồng D và bà: Nguyễn Thị P; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2018. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh Phú Thọ.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 20 phút ngày 16/12/2018, tại khu vực cổng bệnh viện Sông Hồng thuộc tổ 10, phố Long Châu Sa, phường Thọ Sơn, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Việt Trì đang làm nhiệm vụ phát hiện kiểm tra, bắt quả tang Đào Trí D, sinh năm 1996; hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã P, huyện B, thành phố H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon màu trắng bên trong có 03 túi nilon màu trắng nhỏ, bên trong cả 03 túi đều có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, D khai nhận đó là ma túy đá (các đối tượng thường gọi là ma túy đá) mục đích để bán. Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố Việt Trì đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và tiến hành niêm phong vật chứng. Ngoài ra còn thu giữ của D tiền Việt Nam 400.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Coocel vỏ màu trắng đã cũ, số imei: 355200063671587, kèm sim trong máy số 0981514096.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định số chất rắn dạng tinh thể màu trắng đã thu giữ. Tại Bản kết luận giám định số 83/KLGĐ ngày 21/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:
“Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,291 gam, loại: Methamphetamine.
Methamphetamine số thứ tự 323, Danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ.”.
Hoàn trả lại 0,179 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
Ngoài hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để bán bị bắt quả tang, Cơ quan điều tra còn làm rõ trước đó Đào Trí D đã có 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Vũ Văn C, sinh năm 1982, đăng ký thường trú: Tổ 27, khu 6, phường T, thành phố V, tỉnh P, cụ thể như sau:
Lần 01: Khoảng hơn 13 giờ ngày 16/12/2018, Đào Trí D đang ở cổng bệnh viện Sông Hồng thuộc tổ 10, phố Long Châu Sa, phường Thọ Sơn, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thì Vũ Văn C gọi điện thoại từ số thuê bao 0947902452 của C đến số thuê bao 0981514096 của D và hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy Methamphetamine. D đồng ý và hẹn gặp tại cổng bệnh viện Sông Hồng thuộc phường Thọ Sơn, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ để trao đổi mua bán ma túy. Khi gặp C đưa 300.000 đồng, D nhận tiền và đưa lại C 01 gói ma túy, C nhận gói ma túy và đi về.
Lần 02: Sau khi mua được gói ma túy của D, trên đường đi về nhà C mở gói ma túy ra thấy ít không đủ sử dụng cho bản thân, nên khoảng 14 giờ cùng ngày 16/12/2018 C gọi lại cho D và hỏi mua tiếp 300.000 đồng tiền ma túy Methamphetamine, D đồng ý bán và hẹn gặp C ở chỗ cũ. C quay lại cổng bệnh viện Sông Hồng thuộc tổ 10, phố Long Châu Sa, phường Thọ Sơn, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đưa D 300.000 đồng và nhận lại từ D 01 gói ma túy. Sau khi có được ma túy, trên đường về C đã sử dụng hết và ném dụng cụ xuống hồ gần nhà.
Tại Cơ quan Điều tra, Đào Trí D và Vũ Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi như trên.
Về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ khi bắt quả tang và bán cho Vũ Văn C, D khai nhận:
Vào khoảng hơn 12 giờ ngày 16/12/2018 tại khu vực cổng Bệnh viện Sông Hồng thuộc phường Thọ Sơn, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ D gặp một người bạn chỉ biết tên là H (quen biết từ trước) còn địa chỉ cụ thể của H ở đâu D không biết. Khi gặp H rủ D bán ma túy để kiếm tiền. D đồng ý, H đưa D 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 05 túi nilon trắng, trong cả 05 túi đều chứa ma túy đá và bảo D bán 300.000 đồng một túi ma túy đá. Sau khi D bán ma túy lần thứ nhất cho C được một lúc thì H quay lại, D đưa cho H 200.000 đồng, H cầm tiền đi đâu D không biết. D giữ lại 100.000 đồng và tiếp tục đứng ở cổng Bệnh viện Sông Hồng thì C gọi lại cho D hỏi mua tiếp 300.000 đồng ma túy, D đồng ý, C đến đưa cho D 300.000 đồng, D nhận tiền và đưa cho C 01 gói ma túy. Còn lại 03 gói ma túy, D cất dấu tại gốc cây si cổng Bệnh viện Sông Hồng và D tiếp tục đứng đợi để bán ma túy thì bị Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Việt Trì kiểm tra, D tự giác nhặt ở gốc cây si cạnh chỗ D giao nộp và khai nhận là ma túy mục đích để bán. Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Việt Trì lập biên bản bắt quả tang đối với D, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Đối với người đàn ông tên H đưa ma túy cho D, ngoài lời khai của D không có tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra không xác định được.
Đối với Vũ Văn C là người mua ma túy của D để sử dụng và đã sử dụng hết, Cơ quan điều tra đã chuyển Công an thành phố Việt Trì ra quyết định xử phạt hành chính số 41 ngày 20/12/2018 đối với C về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Coocel kèm sim trong máy là điện thoại D liên lạc với C để bán ma túy.
Đối với số tiền 400.000 đồng là số tiền D bán ma túy cho C mà có.
Về điều kiện kinh tế của bị cáo: Qua xác minh, bị cáo không có việc làm ổn định, ngoài đồ dùng cá nhân bị cáo không có nhà, đất hay tài sản riêng gì.
Tại phiên tòa, bị cáo Đào Trí D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo biết rõ hành vi mua bán trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì động cơ tư lợi cá nhân.
Tại bản cáo trạng số 55/CT-VKS-VT ngày 27/3/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Đào Trí D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên bố bị cáo Đào Trí D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy.”
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Đào Trí D từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2018.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đào Trí D.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ các quy định của pháp luật để xử lý vật chứng của vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án, bị cáo D nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết việc làm của bị cáo như vậy là vi phạm pháp luật,đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Việt Trì, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì.
Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Trong ngày 16/12/2018 tại khu vực cổng Bệnh viện Sông Hồng, thuộc phường Thọ Sơn, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Đào Trí D đã có 02 lần bán trái phép chất ma túy Methamphetamine cho Vũ Văn C thu được 600.000 đồng. Số ma túy methamphetamine cả hai lần mua được C đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng và Đào Trí D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,291 gam Methamphetamine nhằm mục đích để bán thì bị Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố Việt Trì phát hiện, bắt quả tang. Do vậy, Đào Trí D phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy gồm: 2 lần bán ma túy cho C và tàng trữ 0,291 gam Methamphetamine nhằm để bán, với tình tiết định khung phạm tội 2 lần trở lên.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, người làm chứng; vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Sau khi Viện kiểm sát trình bày lời luận tội, bị cáo không tranh luận và bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đào Trí D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tội phạm và hình phạt đối với bị cáo được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Điều 251. Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
......
b) Phạm tội 02 lần trở lên;”
Xét thấy tính chất vụ án là thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn và nó là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo biết rằng việc mua bán trái phép chất ma túy là nguyên nhân lây truyền căn bệnh HIV nhưng vẫn cố tình mua bán để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Vì vậy,cần xử phạt bị cáo thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiªn, trước khi quyÕt ®Þnh h×nh ph¹t ®èi víi bÞ c¸o th× cÇn xem xÐt ®Õn nh©n th©n, t×nh tiÕt t¨ng nÆng, gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù cho bÞ c¸o như sau: BÞ c¸o D ®· nhiÒu lÇn cã hµnh vi mua b¸n tr¸i phÐp chÊt ma tuý nhưng đây là tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo nên bÞ c¸o không ph¶i chÞu t×nh tiÕt t¨ng nÆng trách nhiệm hình sự nào. T¹i c¬ quan ®iÒu tra còng như t¹i phiªn toµ, bÞ c¸o thµnh khÈn khai b¸o, ¨n n¨n hèi c¶i nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh, bị cáo không có việc làm ổn định, ngoài đồ dùng cá nhân bị cáo không có nhà, đất hay tài sản riêng gì nªn miÔn hình ph¹t bæ sung ®èi víi bÞ c¸o Đào Trí D.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 bì giấy niêm phong có số 83/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả, bên trong có 0,179 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi giám định là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 sim điện thoại trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Coocel vỏ màu vàng, trắng đã cũ, số imei: 355200063671587 thu giữ của bị cáo D là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Coocel vỏ màu vàng, trắng đã cũ, số imei: 355200063671587 thu giữ của bị cáo D là điện thoại D liên lạc với Vũ Văn C để bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo chiếc điện thoại này.
Đối với số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo D là tiền bị cáo thu được từ việc bán ma túy cho Vũ Văn C nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo chiếc điện thoại này.
Đối với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) là tiền bị cáo bán ma túy cho Vũ Văn C bị cáo đã tiêu sài hết cần buộc bị cáo phải nộp sung quỹ Nhà nước.
Đối với người đàn ông tên H đưa ma túy cho D, ngoài lời khai của D không có tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra không xác định được là phù hợp.
Đối với Vũ Văn C là người mua ma túy của D để sử dụng và đã sử dụng hết, Cơ quan điều tra đã chuyển Công an thành phố Việt Trì ra quyết định xử phạt hành chính số 41 ngày 20/12/2018 đối với C về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1.Tuyên bố bị cáo Đào Trí D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy.”
Xử phạt bị cáo Đào Trí D 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2018.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đào Trí D.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 bì giấy niêm phong có số 83/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả, bên trong có 0,179 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi giám định.
+ 01 sim điện thoại trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Coocel vỏ màu vàng, trắng đã cũ, số imei: 355200063671587.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Coocel vỏ màu trắng đã cũ, số imei: 355200063671587 của bị cáo Đào Trí D.
+ Số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) của bị cáo Đào Trí D.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2019 giữa Công an thành phố Việt Trì và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ).
- Buộc bị cáo Đào Trí D phải nộp sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Buộc bị cáo Đào Trí D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm. N¬inhËn:
| - VKS NDthµnh phố,tỉnh - Tr¹i t¹m giam - Chi côc thi hµnh ¸n TP ViÖtTr×; - C«ng an TP ViÖt Tr×; - BÞ c¸o; - Sở Tư pháp - UBND nơibị cáo cư trú; - Lưu HS, AV. | TM. HỘIĐỒNG XÉT XỬSƠTHẨM ThÈm ph¸n-Chñ to¹ phiªn toµ Trần Thị NgọcHà |