- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Đức T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 49/2019/HS-ST. Ngày: 28-8-2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hà
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thùy và ông Nguyễn Như Tạ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Nhu, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hoa - Kiểm Sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2019/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2019, đối với bị cáo:
Ngô Đức T, sinh ngày 22-01-2000 tại tỉnh Bình Phước.
Nơi đăng ký HKTT: Thôn S, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Ngô Đức Đ và bà Đặng Thị H; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 31-3-2019 – Có mặt.
Người làm chứng:
- Anh Ngô Quốc C, sinh năm 2000; trú tại: Thôn A, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Đức M, sinh năm 1997; trú tại: Bon O, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các Tliệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu năm 2019, Ngô Đức T khi còn làm thuê tại tỉnh Đồng Nai có quen một người tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) là đối tượng nghiện, sử dụng và bán ma túy đá. Khoảng giữa tháng 3 năm 2019, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T tìm gặp B hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 1.000.000 đồng, sau khi mua được, T mang về nhà tại huyện B, tỉnh Bình Phước. Số ma túy đá mua được T sử dụng 02 lần, còn lại phân lẻ một phần vào 01 đoạn ống hút nhựa, một phần bỏ vào túi nilon với ý định bán lấy lời.
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 31-3-2019, Ngô Quốc C nhắn tin hỏi T mua ma túy đá. T đồng ý bán số ma túy đá còn lại như nêu ở trên với giá 1.200.000 đồng. T đi xe khách đến quán Internet X thuộc xã Q, huyện Đ gặp C và C điều khiển xe mô tô chở T đến nhà nghỉ N để gặp Nguyễn Đức M. Trước đó C và M có thỏa thuận mỗi người góp 600.000 đồng mua ma túy sử dụng chung, M là người trả tiền trước, C nợ M 600.000 đồng. Đến nơi, C nói T vào phòng số 2 của nhà nghỉ giao ma túy đá cho M, còn C điều khiển xe đi mua nước. Tại phòng số 2, khi T đưa 01 gói ma túy đá và 01 đoạn ống hút nhựa chứa ma túy đá cho M thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk R’lấp bắt quả tang .
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu trắng, kích thước (02x03)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng, ký hiệu là M01; 01 đoạn ống hút nhựa màu cam, sọc trắng kích thước (04x01)cm được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, ký hiệu là M02; 01 điện thoại di động bàn phím số màu trắng đen có dòng chữ MOBIISTAR, 01 điện thoại di động màu xám, màn hình cảm ứng, bị nứt vỡ của Ngô Đức T; 01 điện thoại di động màu đen có dòng chữ Iphone của Nguyễn Đức M; 01 điện thoại di động Sam sung J2 màu vàng của Ngô Quốc C.
Kết luận giám định số 20/KLMT-PC09 ngày 05-4-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông kết luận: Tinh thể màu trắng trong bì thư ký hiệu M01 có khối lượng 0,3094g là Methamphetamin; Tinh thể màu trắng trong bì thư ký hiệu M02 có khối lượng 0,2159g là Methamphetamin. Methamphetamin là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 323 Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15-5-2018 của Chính phủ. Số ma túy hoàn lại sau giám định là 0,3158 gam.
Cáo trạng số: 37/CT-VKS ngày 09 tháng 7 năm 2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp quyết định truy tố bị cáo Ngô Đức T ra trước Tòa án nhân dân huyện Đăk R’Lấp để xét xử về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Ngô Đức T khai nhận như khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Ngô Đức T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về việc xử lý vật chứng, đề nghị:
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk R’lấp ra quyết định xử lý vật chứng số 27 và 28 và 35 ngày 18-6-2019.
Tịch thu vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động bàn phím số màu trắng đen có dòng chữ MOBIISTAR của Ngô Đức T sử dụng làm phương tiện phạm tội.
Tiêu hủy 0,3158 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và cảm thấy rất ăn năn, hối hận. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các Tliệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đăk R’Lấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Tliệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai, Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định: Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 31-3-2019 tại phòng số 2 nhà nghỉ N thuộc Thôn E, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông, Ngô Đức T có hành vi bán trái phép 0,5253 gam Methamphetamine (ma túy đá) cho Nguyễn Đức M. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được mua bán chất ma túy là trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát và quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh xã hội nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Đối với đối tượng bán ma túy đá cho T, tên là B, do không xác minh được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý.
Đối với hành vi mua ma túy của Nguyễn Đức M và Ngô Quốc C: Do M chưa nhận được ma túy và kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với M và C là âm tính nên không bị xử phạt vi phạm hành chính.
. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
. Về quyết định hình phạt: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn, hối cải; khối lượng ma túy đá bán không lớn. Tuy nhiên xét tình hình tội phạm về ma túy diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển lành mạnh của con người, đồng thời là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo để đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.
Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có T sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.
. Về việc xử lý vật chứng:
Ngày 18-6-2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk R’lấp ra quyết định xử lý vật chứng số 27, 28 và 35 trả lại điện thoại di động màu đen có dòng chữ Iphone cho Nguyễn Đức M; điện thoại di động Sam sung J2 màu vàng cho Ngô Quốc C; điện thoại di động màu vàng, màn hình cảm ứng, không rõ nhãn hiệu, cho Ngô Đức T, chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định theo khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với 01 điện thoại di động bàn phím số màu trắng đen có dòng chữ MOBIISTAR, bị cáo Ngô Đức T dùng dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu vào ngân sách nhà nước.
Đối với 0,3158 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định không sử dụng được, cần tịch thu tiêu hủy.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.
. Về án phí: Bị cáo Ngô Đức T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Ngô Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Ngô Đức T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày 31-3-2019.
2. Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Chấp nhận ngày 18-6-2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk R’lấp ra quyết định xử lý vật chứng số 27, 28 và 35.
Tịch thu vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động bàn phím số màu trắng đen có dòng chữ MOBIISTAR của Ngô Đức T.
Tịch thu tiêu hủy 0,3158 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định.
(Có đặc điểm như trong biên bản thu giữ vật chứng ngày 10-7-2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk R’Lấp và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Ngô Đức T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
‘
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk R’lấp; - CA huyện Đắk R’lấp; - THADS huyện Đ; - Bị cáo; - Lưu: HS,VP. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Lê Thị Thu Hà |