vanban.org

Bản án 49/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 16/09/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/09/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322, khoản 1 Điều 321, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn H, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc và 09 (chín) tháng …

2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322, khoản 1 Điều 321, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Linh Văn Th, xử phạt bị cáo Linh Văn Th 01 (một) năm tù về tội Tổ chức đánh bạc và 06 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc. Tổng hợp hình phạt chung l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322, khoản 1 Điều 321, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn H, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc và 09 (chín) tháng …
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2021/HS-PT
Ngày 16-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chu Long Kiếm.

Các Thẩm phán: Ông Lộc Sơn Thái;

Ông Vi Đức Trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2021/TLPT-HS ngày 26 tháng 7 năm 2021 đối với các bị cáo Nguyễn Văn H cùng đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2021/HS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Văn H; tên gọi khác: Không, sinh ngày 14 tháng 11 năm 1982, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã G, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H và bà Hoàng Thị N; có vợ: Nguyễn Thị X, có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2011; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ ngày 10/9/2020, tạm giam ngày 13/9/2020 đến ngày 08/02/2021 cho Bảo lĩnh, hiện bị cáo tại ngoại; có mặt.

2. Linh Văn T; tên gọi khác: Không, sinh ngày 04 tháng 8 năm 1994, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã G, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Linh Văn Đ và bà Hoàng Thị N; chưa có vợ, con; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ ngày 10/9/2020, tạm giam ngày 13/9/2020 đến ngày 15/10/2020 cho Bảo lĩnh, hiện tại ngoại; có mặt.

3. Liễu Quốc T; tên gọi khác: Không, sinh ngày 19 tháng 02 năm 1986, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã G, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Liễu Quốc T (đã chết) và bà Linh Thị T; có vợ: Linh Thị T, có 01 con sinh năm 2020; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ ngày 10/9/2020, tạm giam ngày 13/9/2020 đến ngày 20/10/2020 cho Bảo lĩnh, hiện tại ngoại; có mặt.

4. Linh Văn P, sinh ngày 26 tháng 3 năm 1976, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã G, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Linh Văn S (đã chết) và bà Nông Thị E; có vợ: Triệu Thị N, có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 1999; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Tại Bản án số 04/2017/HSST ngày 14/02/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, đã xóa án tích. Bị cáo bị tạm giam ngày 20/10/2020, đến ngày 23/11/2020 cho Bảo lĩnh, hiện tại ngoại; có mặt.

5. Nguyễn Đình D; tên gọi khác: Không, sinh ngày 22 tháng 4 năm 1986, tại huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã G, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Hoàng Thị S (đều đã chết); có vợ: Nguyễn Thị H, có con 03 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2013; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ ngày 14/11/2020, tạm giam ngày 17/11/2020 đến ngày 11/12/2020 cho Bảo lĩnh, hiện tại ngoại; có mặt.

6. Đặng Văn K; tên gọi khác: Không, sinh ngày 09 tháng 7 năm 1967, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn M, xã G, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 3/10; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Văn N và bà Đặng Thị B (đã chết); có vợ: Phương Thị S, có con 02 con, con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1991; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ ngày 07/11/2020, tạm giam ngày 10/11/2020 đến ngày 11/12/2021 cho Bảo lĩnh, hiện tại ngoại; có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 16 bị cáo, 03 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị. Bị cáo Hoàng Văn H có kháng cáo nhưng trước khi mở phiên tòa đã có đơn xin rút kháng cáo, Tòa án đã ra quyết định đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn H

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ ngày 10/9/2020, tại khu đồi S thuộc địa phận thôn C, xã G, huyện V, tổ công tác Công an huyện Văn Lãng phát hiện nhóm đối tượng đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa. Tổ công tác đã tiến hành vây bắt được 05 đối tượng gồm: Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị L, Linh Văn Th, Lương Thị N. Các đối tượng khác khi tổ công tác tiến hành bắt quả tang đã bỏ chạy. Vật chứng thu giữ gồm: 17.884.000 (mười bẩy triệu tám trăm tám mươi bốn nghìn) đồng; 01 (một) bạt màu xanh; 34 (ba mươi tư) chiếc ghế nhựa nhỏ; 03 (ba) que tre dài 28cm, rộng 02cm; 01 (một) con dao bài dài 41cm, lưỡi dao diện 30x07cm, cán bằng gỗ dài 11cm; 01 (một) con dao gọt hoa quả dài 28cm, lưỡi dao diện 16x03cm, cán bằng gỗ dài 12cm; 03 (ba) bát sứ màu trắng và 01 (một) đĩa sứ màu trắng; 50 (năm mươi) lá bài tú lơ khơ; 01 (một) xe mô tô Jupiter màu xanh biển kiểm soát 12F6-7967; 01 (một) xe mô tô Honda Dream biển kiểm soát 12F3-2019; 01 (một) xe mô tô Honda Wave màu trắng biển kiểm soát 12H1-281.02; 01 (một) xe mô tô Honda Future màu xanh biển kiểm soát 12H1-077.10; 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius màu đen biển kiểm soát 12B1-133.76; 01 (một) xe mô tô Honda Dream biển kiểm soát 12F5-7986; 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius màu bạc biển kiểm soát 12T1-031.03; 01 (một) xe mô tô Yamaha Sirius màu trắng biển kiểm soát 30H3-3979; 01 (một) xe mô tô Honda Wave màu đen biển kiểm soát 12F4-8458; 01 (một) xe mô tô Honda Wave màu đỏ biển kiểm soát 12V1-111.28; 01 (một) xe mô tô Honda Wave màu đen biển kiểm soát 12D1-062.67; 01 (một) xe mô tô Honda Wave RSX màu xanh không có biển kiểm soát; 01 (một) xe mô tô Honda Dream màu đỏ trắng biển kiểm soát 12F1-7156; 01 (một) xe mô tô Honda Vision màu trắng biển kiểm soát 12V1-114.82; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y71A màu đen đã qua sử dụng, tạm giữ của Nguyễn Văn H; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh đen đã qua sử dụng, tạm giữ của Nguyễn Văn T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đen, màn hình đã hỏng, máy đã qua sử dụng, tạm giữ của Linh Văn Th; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 Pro màu trắng tím đã qua sử dụng, tạm giữ của Lương Thị N; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh đen đã qua sử dụng, tạm giữ của Nguyễn Thị L.

Tại bản Kết luận giám định số 360/KL-PC09 ngày 12/10/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam gồm 17.884.000 (mười bẩy triệu tám trăm tám mươi tư nghìn) đồng, trong gói niêm phong gửi giám định đều là tiền thật.

Quá trình điều tra đã xác định được như sau: Trong khoảng tháng 8 năm 2020, đến trước khi bị bắt Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Đình D, Nguyễn Văn Tứ, Linh Văn P, Linh Văn Đ, Linh Văn Th, Liễu Quốc T, Hoàng Văn H, tổ chức cho các con bạc tham gia đánh bạc bằng hình thức chơi xóc đĩa được thua bằng tiền Việt Nam tại các đồi thuộc xã G, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Bị cáo Nguyễn Văn H phân công nhiệm vụ cho từng người cụ thể: Chuẩn bị các dụng cụ đánh bạc, cầm bảng vị, ngồi chơi câu kéo các con bạc, cảnh giới duy trì an ninh tại chiếu bạc, trông đường. Ngày 10/9/2020 Nguyễn Văn H chọn địa điểm đồi S thuộc thôn C, xã G, huyện V để đánh bạc, phân cho Liễu Quốc T, Nguyễn Đình D trông đường, Nguyễn Văn T chuẩn bị dụng cụ đánh bạc gồm: Bạt, ghế nhựa, bát đĩa, đóm…Hoàng Văn H và Sơn là người cầm bảng vị và trực tiếp đánh bạc với các con bạc, Linh Văn Th, Linh Văn P, Linh Văn Đ có nhiệm vụ câu kéo các con bạc và đảm bảo an ninh trật tự tại địa điểm đánh bạc. Nguyễn Văn H trực tiếp thu tiền của các con bạc đến chơi từ 50.000 (năm mươi nghìn) đồng đến 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, tùy từng người, đến khi kết thúc buổi đánh bạc sẽ chia cho những người trong nhóm tổ chức. Ngày 10/9/2020 Nguyễn Văn H thu tiền của Lương Thị N, Nguyễn Thị L mỗi người 100.000 (một trăm nghìn) đồng, thu của Luân Thị T, Đặng Văn K mỗi người 50.000 (năm mươi nghìn) đồng và thu một số người khác, Nguyễn Văn H không nhớ cụ thể. Các con bạc chơi bằng cách dùng 04 quân vị thường gọi là đóm được cắt từ que tre, mỗi quân vị có 02 mặt khác nhau (màu trắng và màu đen) dùng 01 bát, 01 đĩa rồi cho quân vị vào trong để xóc, người chơi đặt cược chẵn (02 trắng 02 đen hoặc 04 trắng 04 đen) hoặc đặt lẻ (01 đen 03 trắng hoặc 01 trắng 03 đen) với tỷ lệ 01 ăn 01 hoặc đặt cược vào trường hợp cụ thể, các tình huống 04 trắng, 04 đen với tỷ lệ 01 ăn 10; 03 trắng 01 đen hoặc 01 trắng 03 đen với tỷ lệ 02 ăn 07. Khi người chơi hoàn tất việc đặt cược, thì người cầm cái sẽ mở bát và tiến hành kiểm tra kết quả, thu tiền của người thua và trả thưởng cho người thắng. Lương Thị N mang theo 10.200.000 (mười triệu hai trăm nghìn) đồng, Nguyễn Thị L 1.400.000 (một triệu bốn trăm nghìn) đồng, Hoàng Văn S 360.000 (ba trăm sáu mươi nghìn) đồng, Mông Thị P 2.000.000 (hai triệu) đồng, Luân Thị T 100.000 (một trăm nghìn) đồng, Hoàng Văn Tài 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng, Mông Thị N 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, Hứa Thị B 30.000 (ba mươi nghìn) đồng, Hứa Thị S 10.000 (mười nghìn) đồng, Mông Thị P 20.000 (hai mươi nghìn) đồng, Hoàng Văn C 50.000 (năm mươi nghìn) đồng để đánh bạc. Các bị cáo Nguyễn Văn H, Linh Văn Th, Linh Văn P, Hoàng Văn H, Lương Thị N, Nguyễn Thị L, Linh Văn H, Mông Thị P, Hoàng Văn S, Phùng Văn T, Đặng Văn K, Luân Thị T, Hoàng Văn T, Mông Thị N, Hứa Thị B, Hứa Thị S, Mông Thị P, Hoàng Văn C, Lý Văn T tham gia đánh bạc đến 17 giờ thì bị tổ công tác Công an huyện Văn Lãng, phát hiện vây bắt được Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị L, Linh Văn Th và Lương Thị N còn lại bỏ chạy thoát, sau đó các đối tượng đến cơ quan điều tra đầu thú, riêng Đặng Văn K, Nguyễn Đình D bị cơ quan điều ra quyết định truy nã, sau đó Nguyễn Đình D đến cơ quan điều tra đầu thú, Lý Văn T quá trình điều tra có mặt đầy đủ, trong giai đoạn truy tố đi khỏi địa phương, nên cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã, ngày 16/4/2021 đã bị bắt tạm giam theo quyết định truy nã.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2021/HS-ST ngày 17-6-2021 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã quyết định: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322, khoản 1 Điều 321, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Linh Văn Th; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322, khoản 1 Điều 321, Điều 50, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Linh Văn P, Hoàng Văn H; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Liễu Quốc T; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322, Điều 50, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đình D; căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đặng Văn K, cụ thể: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 15 (mười lăm) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc và 09 (chín) tháng tù về tội Đánh bạc; bị cáo Linh Văn Th 12 (mười hai) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc và 06 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc; bị cáo Hoàng Văn H 13 (mười ba) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc và 07 (bẩy) tháng tù về tội: Đánh bạc; bị cáo Linh Văn P 13 (mười ba) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc và 07 (bẩy) tháng tù về tội Đánh bạc; bị cáo Liễu Quốc T 12 (mười hai) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc; bị cáo Nguyễn Đình D 12 (mười hai) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc; bị cáo Đặng Văn K 06 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với 16 bị cáo khác, quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

Trong thời hạn luật định, các bị cáo Nguyễn Văn H, Linh Văn P, Linh Văn Th, Hoàng Văn H, Đặng Văn K, Liễu Quốc T, Nguyễn Đình D kháng cáo xin được hưởng án treo. Trước khi mở phiên tòa Bị cáo Hoàng Văn H đã có đơn xin rút kháng cáo, Tòa án đã ra quyết định đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn H.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo Nguyễn Văn H, Đặng Văn K, Linh Văn Th, Liễu Quốc T, Nguyễn Đình D giữ nguyên kháng cáo; bị cáo Linh Văn P bổ sung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định nên là hợp lệ. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị các bị cáo Nguyễn Văn H, Linh Văn P, Hoàng Văn H và Linh Văn Th về tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự và tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đặng Văn K bị xét xử về tội Đánh bạc; bị cáo Liễu Quốc T, Nguyễn Đình D bị xét xử tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng về nhân thân, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; mức án đối với các bị cáo là phù hợp.

Trước khi mở phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn H có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo, Tòa án đã ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn H nên không đề cập xem xét.

Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn H, Linh Văn Th, Hoàng Văn H, Đặng Văn K, Nguyễn Đình D không xuất trình được tài liệu, chứng cứ mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn H, Linh Văn Th, Đặng Văn K, Nguyễn Đình D.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Liễu Quốc T, Linh Văn P nộp bổ sung Văn bản của Công an huyện Văn Lãng thể hiện bị cáo Liễu Quốc T, Linh Văn P đã tích cực phối hợp với cơ quan điều tra phát hiện tội phạm đánh bạc trên địa bàn huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Linh Văn P, sửa án sơ thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Linh Văn P mỗi tội 01 tháng tù. Bị cáo Liễu Quốc T có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, vai trò đồng phạm thứ yếu, đủ điều kiện được hưởng án treo; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Liễu Quốc T, sửa án sơ thẩm chuyển hình phạt 12 tháng tù treo thử thách 24 tháng cho bị cáo Liễu Quốc T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung của Bản án sơ thẩm đã tuyên. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Văn H, Linh Văn P, Hoàng Văn H và Linh Văn Th về tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự và tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đặng Văn K bị xét xử về tội Đánh bạc; bị cáo Liễu Quốc T, Nguyễn Đình D bị xét xử tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn H, Linh Văn P, Linh Văn Th, Đặng Văn K, Liễu Quốc T, Nguyễn Đình D thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng về nhân thân, vai trò, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Mức hình phạt của Bản án sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra.

Các bị cáo Nguyễn Văn H, Linh Văn P, Linh Văn Th phạm nhiều tội, gồm: Tội tổ chức đánh bạc và Tội đánh bạc; các bị cáo Đặng Văn K, Nguyễn Đình D sau khi phạm tội đã bỏ trốn, bị truy nã. Do đó, các bị cáo Nguyễn Văn H, Linh Văn P, Linh Văn Th, Đặng Văn K, Nguyễn Đình D không đủ điều kiện để được hưởng án treo. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn H, Linh Văn Th, Đặng Văn K, Nguyễn Đình D không xuất trình được tài liệu chứng cứ mới, tình tiết mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn H, Linh Văn Th, Đặng Văn K, Nguyễn Đình D; cần giữ nguyên nội dung Bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Linh Văn Th, Đặng Văn K, Nguyễn Đình D.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Liễu Quốc T, Linh Văn P đã giao nộp Công văn số 903/CAH-CV ngày 18 tháng 8 năm 2021 của Công an huyện Văn Lãng xác nhận các bị cáo đã nhiệt tình cộng tác giúp đỡ cơ quan pháp luật trong việc đấu tranh, ngăn chặn, bắt giữ tội phạm. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới phát sinh tại cấp phúc thẩm mà các bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét thấy, bị cáo Liễu Quốc T là người có nhân thân tốt, luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong thời gian tại ngoại vừa qua không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật; bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Liễu Quốc T, do có tình tiết mới. Đối với bị cáo Linh Văn P, do xuất trình được tình tiết giảm nhẹ tại cấp phúc thẩm mà chưa xuất trình tại Tòa án cấp sơ thẩm nên cần chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo Linh Văn P, do có tình tiết mới.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phù hợp với nhận định nêu trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên bị cáo Liễu Quốc T, Linh Văn P không phải chịu án phí phúc thẩm. Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Nguyễn Văn H, Linh Văn Th, Đặng Văn K, Nguyễn Đình D phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn H, Linh Văn Th, Đặng Văn K, Nguyễn Đình D; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2021/HS-ST ngày 17-6-2021 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đối với phần hình phạt tù của bị cáo Nguyễn Văn H, Linh Văn Th, Đặng Văn K, Nguyễn Đình D, cụ thể:

1.1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322, khoản 1 Điều 321, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn H, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc và 09 (chín) tháng tù về tội Đánh bạc. Tổng hợp hình phạt chung là 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/9/2020 đến ngày 08/02/2021.

1.2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322, khoản 1 Điều 321, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Linh Văn Th, xử phạt bị cáo Linh Văn Th 01 (một) năm tù về tội Tổ chức đánh bạc và 06 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc. Tổng hợp hình phạt chung là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/9/2020 đến ngày 15/10/2021.

1.3. Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 50, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đặng Văn K, xử phạt bị cáo Đặng Văn K 06 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2020 đến ngày 11/12/2020.

1.4. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322, Điều 50, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đình D, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình D 01 (một) năm tù về tội Tổ chức đánh bạc, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/11/2020 đến ngày 11/12/2020.

2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Liễu Quốc T và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Linh Văn P; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2021/HS-ST ngày 17-6-2021 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đối với phần hình phạt tù, cụ thể như sau:

2.1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322, Điều 50, điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Liễu Quốc T, xử phạt bị cáo Liễu Quốc T 01 (một) năm tù cho hưởng án treo về tội Tổ chức đánh bạc. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm là ngày 16-9-2021. Giao bị cáo Liễu Quốc T cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện V, tỉnh Lạng Sơn và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2.2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 322, khoản 1 Điều 321, Điều 50, điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Linh Văn P, xử phạt bị cáo Linh Văn P 01 (một) năm tù về tội Tổ chức đánh bạc và 06 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc. Tổng hợp hình phạt chung là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/10/2020 đến ngày 23/11/2020.

4. Về án phí:

4.1. Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Liễu Quốc T, Linh Văn P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4.2. Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Văn H, Linh Văn Th, Đặng Văn K, Nguyễn Đình D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Về hiệu lực pháp luật: Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ