vanban.org

Bản án 49/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thanh Ph.

Buộc ông Phan Thành Tiến Đ phải có trách nhiệm trả cho anh Trần Thanh Ph, số tiền còn nợ 17.000.000đồng (Mười bảy triệu đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 29/8/2019) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thanh Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 49/2019/DS-ST
Ngày: 29 - 8 - 2019
V/v “Tranh chấp hợp đồng dân sự
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Trinh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Khon

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Hồng

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Dương Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 29 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 172/2019/TLST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2019/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2019/QĐST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Anh Trần Thanh Ph, sinh năm: 1977 (Có mặt).

Địa chỉ: Khóm T, thị trấn Th, huyện Th, tỉnh Đồng Tháp.

-Bị đơn: Ông Phan Thành Tiến Đ, sinh năm: 1967 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện Th, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 01/3/2019 cùng bản tự khai anh Trần Thanh Ph trình bày: Ông Phan Thành Tiến Đ ký hợp đồng số: 16062017 ngày 16/6/2017 (DL) và biên nhận ngày 16/6/2017 (DL) ký nhận vay của anh Ph số tiền gốc là 38.250.000đồng, lãi suất thỏa thuận là 1%/tháng, thời gian trả trong vòng 12 kỳ, tiền lãi của 12 tháng cho số tiền gốc 38.250.000đồng là 4.590.000đồng. Tổng số tiền là gốc, lãi là 42.840.000đồng, chia đều mỗi kỳ gốc, lãi phải trả số tiền 3.570.000đồng. Thời gian trả nợ từ ngày 16/7/2017 đến ngày 16/6/2018. Từ khi vay đến nay ông Đ trả được 24.990.000đồng, hiện còn nợ lại anh Ph 17.850.000đồng (Mười bảy triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).

Nay tại Tòa anh Ph thống nhất giảm bớt cho ông Đ số tiền 850.000đồng, anh Ph yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đ phải trả số tiền gốc và lãi còn nợ lại là 17.000.000đồng (Mười bảy triệu đồng).

Đối với bị đơn ông Phan Thành Tiến Đ, sau khi Tòa án thụ lý vụ án ngày 13 tháng 3 năm 2019, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn theo biên bản tống đạt ngày 15 tháng 3 năm 2019, hết thời hạn có văn bản trả lời cho Tòa án, ông Đ không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án. Ngày 10 tháng 5 năm 2019, Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất nhưng ông Đ vắng mặt không có lý do. Ngày 30 tháng 5 năm 2019 Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần hai, nhưng ông Đ vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ được thu thập hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà ý kiến của nguyên đơn, của bị đơn, Tòa án nhận định:

Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thanh Ph và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn là ông Phan Thành Tiến Đ có nơi cư trú tại ấp A, xã T, huyện Th, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Do bị đơn vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần hai, vì vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án đã tiến hành lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được để tiếp tục giải quyết vụ án.

Ngày 10 tháng 7 năm 2019 Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2019/QĐXXST – DS, vụ án được xét xử vào lúc 14 giờ ngày 01 tháng 8 năm 2019, bị đơn vắng mặt lần thứ nhất không có lý do. Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa số 39 /2019/QĐST – DS, ngày 01 tháng 8 năm 2019, phiên tòa được xét xử vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 29 tháng 8 năm 2019, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Phan Thành Tiến Đ là phù hợp.

Về quan hệ pháp luật: Xét tại hợp đồng vay tiền do ông Phan Thành Tiến Đ ký hợp đồng số: 16062017 ngày 16/6/2017 (DL) và biên nhận ngày 16/6/2017 (DL) ký nhận vay của anh Ph số tiền gốc là 38.250.000đồng, lãi suất thỏa thuận là 1%/tháng, thời gian trả trong vòng 12 kỳ, tiền lãi của 12 tháng cho số tiền gốc 38.250.000đồng là 4.590.000đồng. Tổng số tiền là gốc, lãi là 42.840.000đồng, chia đều mỗi kỳ trả gốc, lãi phải trả số tiền 3.570.000đồng. Thời gian trả nợ từ ngày 16/7/2017 đến ngày 16/6/2018. Từ khi vay đến nay ông Đ trả được 24.990.000đồng còn nợ lại anh Ph 17.850.000đồng (Mười bảy triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng). Tại Tòa anh Ph thồng nhất giảm bớt cho ông Đ số tiền 850.000đồng, chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đ phải trả lại cho anh Ph số tiền còn nợ là 17.000.000đồng nên phát sinh “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015.

Tại Điều 463 ghi: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thảo thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Xét đối với bị đơn ông Phan Thành Tiến Đ. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần hai và tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, và quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Đ vẫn không đến Tòa án giải quyết. Vì vậy căn cứ vào chứng cứ chứng minh của anh Ph đối với hợp đồng vay số: 16062017 ngày 16/6/2017 (DL) và biên nhận ngày 16/6/2017 (DL) thì việc ông Phan Thành Tiến Đ vay của anh Ph số tiền gốc là 38.250.000 đồng, tiền lãi 4.590.000đồng. Tổng số tiền là gốc, lãi là 42.840.000đồng đã trả được 24.990.000đồng, hiện còn nợ lại anh Ph 17.850.000đồng là có thật. Tuy nhiên, tại phiên tòa anh Ph thống nhất giảm bớt một phần tiền còn nợ cho ông Đ với số tiền là 850.000đồng, chỉ yêu cầu ông Đ trả số tiền 17.000.000đồng. Đây là sự tự nguyện của anh Ph, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này, buộc ông Đ có trách nhiệm trả cho anh Ph số tiền còn lại là 17.000.000đồng (Mười bảy triệu đồng) là phù hợp Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015.

Bị đơn có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Thanh Ph.

Buộc ông Phan Thành Tiến Đ phải có trách nhiệm trả cho anh Trần Thanh Ph, số tiền còn nợ 17.000.000đồng (Mười bảy triệu đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 29/8/2019) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Phan Thành Tiến Đ phải chịu 850.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nộp tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Th, tỉnh Đồng Tháp.

Anh Ph không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho anh Ph 446.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số BH/2017/0009268 ngày 12/3/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Th, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn có mặt tại tòa có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 29/8/2019).

Bị đơn vắng mặt có quyến kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 ,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ