vanban.org

Bản án 49/2019/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 03/09/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/09/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Kh ng chấp nhận háng cáo của ng Trần Quốc L và háng cáo của ng Ph m Ngọc D. Kh ng chấp nhận háng nghị của Viện iểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, t nh Nam Định.

Kh ng chấp nhận yêu cầu h i iện của ng Trần Quốc L. Chấp nhận yêu cầu độc lập của NLQ1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất — án dân sự — "Vụ án PT-TC giữa ông L và ông D, bà N"
  • Tòa quyết gì? Kh ng chấp nhận háng cáo của ng Trần Quốc L và háng cáo của ng Ph m Ngọc D. Kh ng chấp nhận háng nghị của Viện iểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, t nh Nam Định.
  • Căn cứ chính? Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT Hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, q…; Điều 122 Bộ luật Dân sự; Điều 129 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2019/DS-PT
Ngày 03-9-2019
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành ph n H i n

phúc h

c :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu

Các Thẩm phán:

Ông Mai Anh Tuấn

Bà Mai Thị Minh Hồng

- Thư ký phiên òa: Ông Trịnh Văn Sơn - Thư T a án nhân dân t nh Nam Định.

- Đại diện Viện kiể sá nhân dân ỉnh Na Định ha ia phiên oà: Bà Lưu Thị Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 và 03 tháng 9 năm 2019 t i trụ s Toà án nhân dân t nh Nam Định t ử ph c th m c ng hai vụ án dân sự ph c th m thụ l số 27/2019/TLPT-DS ngày 12 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ th m số 21/2019/DS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, t nh Nam Định bị háng cáo và bị háng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra t ử ph c th m số 107/2019/QĐ-PT ngày 20 tháng 8 năm 2019 gi a các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Quốc L, sinh năm 1977; đăng hộ h u: Số nhà 21, đường L, phường L, thành phố N, t nh Nam Định; chỗ : Số 411BH9, phường T, quận T, thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Ông Ph m Ngọc D, sinh năm 1967 & Bà Ph m Thị Th y N, sinh năm 1970;

Cùng địa ch : Tổ dân phố số 1, thị trấn Y, huyện H, t nh Nam Định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:NLQ1;

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Gia L - Chi cục trư ng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. NLQ2; địa ch : Số 50 L 3 P, ã M, thành phố N, t nh Nam Định.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Thế L - Trư ng Văn phòng c ng chứng.

2. NLQ3, sinh năm 1969; địa ch : Xóm 17, ã H, huyện H, t nh Nam Định.

3. NLQ4, sinh năm 1960; địa ch : Xóm L, ã H, huyện H, t nh Nam Định.

4. NLQ5, sinh năm 1948; địa ch : Xóm 5, ã H, huyện H, t nh Nam Định.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn: Ông Trần Quốc L; bị đơn: Ông Ph m Ngọc D.

Quyết định háng nghị số 01/QĐ-KNPT ngày 08-5-2019 của Viện iểm sát nhân dân huyện Hải Hậu.

T i phiên t a ph c th m: Ông L, ông D, bà N, NLQ3, NLQ5, NLQ4 có mặt, vắng mặt ông Lê Gia L, ông Hoàng Thế L. Khi tuyên án vắng mặt ông D, bà N, ông Hoàng Thế L, ông Lê Gia L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

T i đơn h i iện đề ngày 21 tháng 8 năm 2018 nguyên đơn là ông Trần Quốc L trình bày:

Ngày 25-6-2013 t i NLQ2, ông D và vợ là bà Bà N (bên chuyển nhượng)

hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1278, quyển số 01/TPCC-HĐGD ( sau đây viết tắt là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1278) với ông L ( bên nhận chuyển nhượng) thửa đất số 55, tờ bản đồ số 8, diện t ch đất 90m2 với giá 3.700.000.000đ Ba t

y trăm triệu đ ng). Theo thỏa thuận, sau hi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ng có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có th m quyền để đăng quyền sử dụng đất. Từ hi hợp đồng chuyển nhượng đất với ông D, bà N, đến nay ng chưa làm thủ tục sang tên đăng quyền sử dụng đất. Hiện nay, nhà đất do ng quản l sử dụng và nộp thuế cho nhà nước, gi a ng và bà N, ông D h ng có tranh chấp nào liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng đã c ng chứng năm 2013.

Ngày 19-7-2018 NLQ1 ê biên thửa đất ng đã mua của ông D, bà N để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, theo quyết định của bản án mà ng h ng phải là đối tượng phải thi hành. Do vậy, ng đề nghị T a án c ng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1278, quyển số 01/TPCC- HĐGD ngày 25 tháng 06 năm 2013 lập t i NLQ2 có hiệu lực pháp luật và c ng nhận quyền s h u, quyền sử dụng hợp pháp tài sản là nhà đất đã nhận chuyển nhượng của ông D, bà N, t i Tổ dân phố số 1 thị trấn Y, huyện H, t nh Nam Định. Buộc các bên thực hiện việc đăng quyền sử dụng đất t i cơ quan nhà nước có th m quyền theo quy định.

Ông Trần Trung K là người đ i diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ông có cùng quan điểm trình bày như nguyên đơn, việc ông L nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông D là do trước đây ông D, bà N nợ ông L 1.200.000.000đ và nợ Ngân hàng C ng thương 1.700.000.000đ, để lấy được nhà đất ông L phải bỏ tiền ra trả Ngân hàng. Sau khi, trừ lãi các hoản, ông L còn phải trả thêm ông D, bà N 700.000.000đ, lý do ông L chưa đến cơ quan nhà nước có th m quyền để đăng quyền sử dụng đất, là do ông L có định mua thêm đất ph a sau nhà đất của ông D, bà N và sau đó làm thủ tục cấp giấy chứng nhận một lần. Nhưng đến nay giá đất đ thị quá cao, nên ông L bỏ định mua thêm đất, mặt hác, năm 2016 ông L có định làm thủ tục sang tên thì NLQ4 có đơn tranh chấp với ông D, bà N nên ông L không làm thủ tục sang tên được. Trường hợp, hợp đồng bị tuyên v hiệu, ông L đề nghị T a án buộc ông D, bà N phải trả cho ông L số tiền đã nhận chuyển nhượng là 3.7000.000.000đ và không ác định lỗi.

Bị đơn là ông Ph m Ngọc D và vợ là bà Ph m Thị Th y N đều trình bày:

Ông bà ác nhận đơn h i iện của ông L là đ ng. Năm 2013 ông bà vay tiền của Ngân hàng và của nhiều người hác, nhưng không có hả năng trả nợ. Ngày 25-6-2013, ng bà lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông L nhà và thổ đất diện t ch 90m2 t i thửa đất số 55, tờ bản đồ số 8 với giá chuyển nhượng là 3.700.000.000đ. Sau hi, chuyển nhượng do h ng có chỗ nào khác, nên ng bà tiếp tục thanh l toàn bộ 71 món đồ dùng sinh ho t trong gia đình được 935.000.000đ. Ngày 28-6-2013 ông bà ký hợp đồng thuê nhà 03 năm ( từ ngày 28-6-2013 đến 28-6-2016) thuê l i toàn bộ nhà đất và đồ dùng sinh ho t của ông L với giá 1.000.000đ/01 tháng. Khi hết h n hợp đồng thuê nhà, ng bà l i tiếp tục thuê l i nhà đất và đồ dùng sinh ho t của ông L với giá 3.000.000đ/tháng và đến tháng 8 năm 2018 ông L đ i l i tài sản h ng cho thuê n a. Nay ng bà đề nghị T a án c ng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gi a ông D, bà N với và ông L nêu trên.

- T i c ng văn số 238/2019/CV-CCTHADS ngày 24-9-2018 NLQ1 do Ông Lê Gia L- Chi cục trư ng là người đ i diện theo pháp luật và là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trình bày : Chi cục thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành 03 quyết định thi hành án đối với ông D, bà N cụ thể :

Đối với bà N phải thi hành trả nợ cho NLQ3,

óm 17, ã Hải Hưng số tiền 2.970.000.000đ. Đối với ông D, bà N phải thi hành 02 quyết định trả nợ là 1.393.000.000đ (trong đó trả vợ chồng NLQ4, bà Én óm Lê Đê, ã Hải Tân là 605.000.000đ; trả nợ NLQ5 óm 5, ã Hải Phong là 788.000.000đ).

Quá trình tổ chức thi hành án, Chi cục thi hành án đã tiến hành ác minh tài sản của ông D, bà N. Ngoài thổ đất 100m2 t i tổ dân phố số 01, Thị trấn Yên Định, ông D, bà N c n có nhà và thổ đất 90m2 t i thửa đất số 55, tờ bản đồ số 8 cũng tổ dân phố số 01, thị trấn Yên Định đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14-6-2013 đứng tên ông D, bà N. Nhưng ông D, bà N trình bày đã lập hợp đồng chuyển nhượng thổ đất trên cho ông L, t i NLQ2. Kết quả ác minh t i Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai huyện Hải Hậu, thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn đứng tên ông D, bà N các bên chưa đi đăng biến động t i Văn ph ng đăng đất đai huyện Hải Hậu. Theo Điều 692 Bộ luật Dân sự 2005, hoản 2 Điều 46 Luật đất đai năm 2003 và hoản 4, Điều 146 Nghị định 18/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Ch nh phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003, tiết 2.13 mục 2 phần III Th ng tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02-8-2007 của Bộ tài nguyên và m i trường quy định. Trường hợp, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được thực hiện trước ngày 01-7-2014 (trước ngày Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực) thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm thực hiện việc đăng biến động t i Văn ph ng đăng quyền sử dụng đất được ác định thời điểm (giờ, ph t, ngày, tháng, năm) tiếp nhận hồ sơ hợp lệ. Như vậy, theo các quy định trên thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gi a ông L và ông D, bà N chưa có hiệu lực pháp luật, nên Chi cục Thi hành án đề nghị T a án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gi a ông L và ông D, bà N t i thửa 55 tờ bản đồ số 8 diện t c 90m2 đất địa ch thửa đất t i : Tổ dân phố số 01 thị trấn Yên Định, huyện Hải Hậu, t nh Nam Định v hiệu.

- T i công văn số 439/VPCCHA ngày 16-01-2019 và biên bản ác minh ngày 05-10-2018 của NLQ2, ông Hoàng Thế Long -Trư ng văn ph ng trình bày :

Văn ph ng c ng chứng đã thực hiện việc c ng chứng theo đ ng quy định của pháp luật như: Tiếp nhận hồ sơ, so n thảo hợp đồng, hai bên trước mặt C ng chứng viên. Nay NLQ1 đề nghị tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Văn ph ng thấy h ng có căn cứ, nên đề nghị T a án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

- NLQ4 trình bày: Ngày 15-9-2012, ông cho ông D, bà N vay 950.000.000đ, đ i nợ nhiều lần ngày 14-12-2012 ông D, bà N trả 300.000.000đ, ngày 22-6-2013 ông D, bà N 45.000.000đ (nhưng lấy nợ từ người hác đang nợ ông D, bà N), tổng là 345.000.000đ, c n l i 605.000.000đ ng đã đ i nhiều lần, nhưng h ng trả nên ng đã h i iện ra T a án yêu cầu ông D, bà N phải trả số nợ trên. Trong quá trình đ i nợ, đến hi thi hành án, ng chưa bao giờ nghe được th ng tin ông D, bà N bán tài sản của mình cho người hác. Nay ông D, bà N đưa ra hợp đồng đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông L và một hợp đồng đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Liệu, là chị gái NLQ3 và thanh l các tài sản hác trong nhà ông D, bà N cho người hác, theo ng các hợp đồng trên là giả t o, nhằm trồn tránh nghĩa vụ trả nợ của người phải thi hành án, đối với người được thi hành án, nên ng đề nghị T a án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng gi a ông L và ông D, bà N.

- NLQ5 trình bày: Trong tháng 9, tháng 10 năm 2010 bà cho ông D, bà N vay 3 lần với số tiền 720.000.000đ, hai bên có thỏa thuận lãi suất, ông D, bà N đã trả lãi được 03 tháng lãi đầu tiên, sau đó h ng trả nên bà đã h i iện ra T a án. T i Quyết định c ng nhận thỏa thuận số 37/2017/QĐST-TCDS ngày 19-7-2017 của T a án huyện Hải Hậu đã buộc ông D, bà N trả nợ cho bà là 720.000.000đ tiền gốc và 68.000.000đ tiền lãi, tổng cộng 788.000.000đ. Do ông D, bà N h ng tự nguyện thi hành án, nên bà đã đề nghị Chi cục thi hành án phát m i tài sản của ông D, bà N thì ông D, bà N đưa ra các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đất và thanh l các tài sản sinh ho t trong gia đình. Đến nay, theo bà các hợp đồng trên là giả t o nhằm trồn tránh nghĩa vụ trả nợ của người phải thi hành án đối với người được thi hành án, đề nghị cơ quan có th m quyền em t hành vi trên của ông D, bà N ử l theo quy định của pháp luật.

- T i biên bản lấy lời hai ngày 10-01-2019, NLQ3 trình bày: Xuất phát từ mối quan hệ b n bè cùng học phổ th ng với ông D. Bà làm nghề inh doanh buôn bán vàng, trước năm 2011 ông D, bà N thường vay tiền của bà để làm kinh tế, nhưng đã trả ong. Ngày 02-5-2012 ông D, bà N đến nhà bà hỏi vay số tiền 3.000.000.000đ, thời h n vay 01 tháng, hai bên có thỏa thuận lãi suất, đến h n trả tiền bà đã nhiều lần đ i tiền nhưng ông D, bà N trả cho bà 30.000.000đ, sau đó h ng trả, nên bà đã h i iện ra T a án, t i bản án ph c th m số 25/2017/DS-PT ngày 09-8-2017 của T a án nhân dân t nh Nam Định đã quyết định buộc bà Ph m Thị Th y N phải trả cho bà 2.970.000.000đ (Hai tỷ ch n trăm bảy mươi triệu đồng). Do ông D, bà N h ng chịu thi hành án bà đề nghị Cơ quan Thi hành án huyện Hải Hậu phát m i tài sản của ông D, bà N. Trong quá trình thi hành án, ông D, bà N uất trình hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người hác, theo bà đây là hành vi t u tán tài sản của ông D, bà N, để h ng phải trả thực hiện nghĩa vụ thi hành án, nên bà đề nghị T a án tuyên bố hợp đồng v hiệu và hủy hợp đồng.

T i bản án số 21/2019/TCDS-ST ngày 24-4-2019 của T a án nhân dân huyện Hải Hậu đã quyết định. Căn cứ hoản 3 Điều 26; điểm a hoản 1 Điều 35; điểm c hoản 1 Điều 39; Điều 146; Điều 147; Điều 203; Điều 220; Điều 227; Điều 228 và Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ hoản 3 Điều 26; điểm a hoản 1 Điều 35; điểm c hoản 1 Điều 39; Điều 146; Điều 147; Điều 203; Điều 220; Điều 227; Điều 228 và Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 121; 122; 124; 127; 129; 134; 137 ; 689, 691 và 692 Bộ luật dân sự 2005; Căn cứ hoản 2 Điều 46 Luật Đất đai năm 2003; hoản 4, Điều 146 Nghị định 18/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Ch nh phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003, tiết 2.13 mục 2 phần III Th ng tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02-8-2007 của Bộ tài nguyên và m i trường; điểm a, hoản 2, điểm b, hoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án ph , lệ ph Toà án.

1. Kh ng chấp nhận yêu cầu h i iện của ng Trần Quốc L.

2. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1278, quyển số 1/TPCC- HĐGD, thửa đất chuyển nhượng số 55, tờ bản đồ số 8, diện t ch 90m2 t i TDP số 1, thị trấn Yên Định, huyện Hải Hậu, t nh Nam Định t i NLQ2 gi a ông Trần Quốc L và vợ chồng ng Ph m Ngọc D, bà Ph m Thị Th y N là vô hiệu do giả t o.

Ngoài ra, án sơ th m c n tuyên án ph , chi ph th m định, định giá và quyền háng cáo của các đương sự và biện pháp thi hành án.

Ngày 07-5-2019 ông Ph m Ngọc D háng cáo bản án sơ th m số 21/2019TCDS- ST ngày 24-04-2019 của T a án huyện Hải Hậu. Yêu cầu cấp ph c th m giải quyết nh ng việc sau đây: Hủy quyết định ê biên tài sản của ông Trần Quốc L do NLQ1 ban hành.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1278 quyển số 01/TPCC-HĐGD ngày 25-6-2013 t i NLQ2 gi a ng Trần Quốc L với vợ chồng ng là đ ng quy định của pháp luật.

Ngày 08-5-2019 ông Trần Quốc L háng cáo bản án sơ th m số 21/2019 TCDS- ST ngày 24-04-2019 của T a án huyện Hải Hậu. Yêu cầu cấp ph c th m giải quyết nh ng việc sau đây:

C ng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1278 t i thửa số 55, tờ bản đồ số 8, diện t ch 90m2 địa ch thửa đất t i: Tổ dân phố số 1, thị trấn Y, huyện H, t nh Nam Định ngày 25-6-2013 gi a ng với ông Ph m Ngọc D, bà Ph m Thị Th y N có hiệu lực pháp luật và c ng nhận quyền s h u, quyền sử dụng hợp pháp tài sản là nhà đất đã nhận chuyển nhượng. Cho ph p ng được thực hiện thủ tục hành ch nh t i Chi nhánh Văn ph ng đăng nhà đất huyện Hải Hậu theo quy định của pháp luật.

Quyết định háng nghị số 01/QĐ-KNPT ngày 08-5-2019 của Viện iểm sát huyện Hải Hậu, t nh Nam Định háng nghị bản án dân sự sơ th m số 21/2019/TSDS-ST ngày 24-4-2019 của T a án huyện Hải Hậu, cho rằng cấp sơ th m bác yêu cầu h i iện của ng Trần Quốc L, tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gi a ng Ph m Ngọc D, bà Ph m Thị Th y N với ông Trần Quốc L v hiệu do giả t o là h ng đ ng và h ng có căn cứ, đề nghị T a án t nh Nam Định t ử ph c th m vụ án c ng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gi a ông L và ông D, bà N.

T i phiên t a ph c th m, ng Trần Quốc L gi nguyên yêu cầu h i iện và gi nguyên yêu cầu háng cáo.

Ông Ph m Ngọc D gi nguyên đơn háng cáo.

NLQ4, NLQ3 và bà Ph m Thị Lái đều trình bày h ng nhất tr với kháng cáo của ông L và háng cáo của ông D và háng nghị của Viện iểm sát huyện Hải Hậu đề nghị Hội đồng t ử gi nguyên bản án sơ th m.

Kiểm sát viên - Viện iểm sát t nh Nam Định phát biểu iến: Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án t i cấp ph c th m, Th m phán và Hội đồng t ử đã tuân theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đ ng các quy định pháp luật tố tụng dân sự, quyền lợi của các đương sự được bảo đảm. Về đường lối giải quyết vụ án, ông L h i iện yêu cầu T a án c ng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1278 ngày 25-6-2013 gi a ông Ph m Ngọc D và bà Ph m Thị Th y N với ng Trần Quốc L và c ng nhận quyền s h u, quyền sử dụng hợp pháp tài sản là nhà đất đã nhận chuyển nhượng của ông D, bà N, t i Tổ dân phố số 1, thị trấn Y, huyện H, t nh Nam Định. Buộc các bên thực hiện việc đăng quyền sử dụng đất t i cơ quan nhà nước có th m quyền theo quy định. Như vậy, yêu cầu của ông L là việc dân sự được giải quyết theo thủ tục việc dân sự quy định t i Điểu 361 BLDS nhưng cấp sơ th m ác định là vụ án dân sự và giải quyết theo thủ tục vụ án dân sự là h ng đ ng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, có căn cứ chấp nhận háng nghị của Viện iểm sát huyện Hải Hậu và háng cáo của ông L, kháng cáo của ông D, đề nghị Hội đồng t ử áp dụng hoản 2 Điều 310 hủy án sơ th m giao hồ sơ vụ án cho cấp sơ th m giải quyết l i vụ án. Án ph giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được em t t i phiên toà, căn cứ vào ết quả tranh luận t i phiên toà, Hội đồng t ử t háng cáo của ng Trần Quốc L, háng cáo của ng Ph m Ngọc D và kháng nghị của Viện iểm sát nhân dân huyện Hải Hậu thấy:

Về tố tụng: T i phiên t a ph c th m NLQ2 và NLQ1 đều có đơn đề nghị t ử vắng mặt, căn cứ hoản 2 Điều 296 BLTTDS, Hội đồng t ử tiến hành t ử vắng mặt họ.

Ông Trần Quốc L và vợ chồng ng Ph m Ngọc D, bà Ph m Thị Th y N đều đề nghị T a án c ng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1278 ngày 25-6-2013 gi a ông D, bà N với ông L. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là NLQ1 có c ng văn số 238/2019/CV-CCTHADS ngày 24-9-2018 yêu cầu T a án huyện Hải Hậu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1278 ngày 25-6-2013 gi a ông L với ông D, bà N v hiệu. Vì vậy, cấp sơ th m ác định là vụ án tranh chấp dân sự và áp dụng các thủ tục tố tụng giải quyết vụ án theo quy định của BLTTDS là phù hợp, nên h ng có căn cứ chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên t i phiên t a đề nghị hủy án sơ th m. Tuy nhiên, căn cứ Điều 201 BLTTDS thì NLQ1 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, nhưng cấp sơ th m ác định tư cách tố tụng đối với NLQ1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chưa ch nh ác cần r t inh nghiệm.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1278 ngày 25-6-2013 gi a ông D, bà N và ông L thì h ng có điều hoản nào quy định ông D, bà N bán nhà hai tầng iên cố trên đất cho ông L mà ch chuyển nhượng 90m2 đất thuộc thửa 55 tờ bản đồ số 8 t i Tổ dân phố số 1, Thị trấn Yên Định, huyện Hải Hậu cho ông L. Các đương sự hai có bán nhà trên đất nhưng h ng có tài liệu, chứng cứ chứng minh, nên h ng có căn cứ chấp nhận có việc mua bán nhà gi a ông L và ông D, bà N. Do vậy nhà hai tầng ây dựng trên 90m2 đất vẫn thuộc quyền s h u của ông D, bà N.

Căn cứ vào hợp đồng cho thuê nhà ngày 28-6-2013 gi a ông L và ông D, bà N thì ông L cho ông D, bà N thuê nhà hai tầng ây dựng trên 90m2 và các trang thiết bị chủ yếu gắn liền với nhà . Lý do thuê nhà, t i phiên t a ông L và ông D, bà N trình bày sau hi bán nhà, đất cho ông L h ng có chỗ . Nhưng đến ngày 10-7-2013 thì ông D, bà N mới thanh l tài sản gồm các đồ dùng sinh ho t và cây cảnh cho ông L. Theo phân tích nêu trên căn nhà hai tầng thuộc quyền s h u của ông D, bà N mà ông L l i cho ông D, bà N thuê, tài sản đồ dùng sinh ho t của gia đình ông D, bà N chưa thanh l cho ông L nhưng ông L đã cho ông D, bà N thuê. Mặt hác, giá thuê nhà và các đồ dùng sinh ho t ông D, bà N ch trả cho ông L là 1.000.000đ/tháng, trong hi đó gi a ông D, bà N và ông L h ng có quan hệ anh em họ hàng gì, ác minh giá thuê mặt bằng hoặc thuê đất trên cùng trục đường với thổ đất với ông D, bà N từ năm 2017 đến nay có giá từ 10.000.000đ/tháng đến 15.000.000đ/tháng. Như vậy, Hội đồng t ử thấy có nhiều mâu thuẫn, h ng thống nhất, trong việc hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê tài sản, thanh l tài sản và giá thuê nhà gi a ông D, bà N và ông L.

T i Điều 2 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1278 ngày 25-6-2013 quy định “Giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu t i Điều 1 của hợp đồng là 3.700.000.000đ VNĐ; phương thức thanh toán: Hai bên đã thực hiện giao và nhận tiền của việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên theo đ ng thời h n và phương thức mà hai bên đã thỏa thuận trước hi hợp đồng này, h ng có sự chứng iến của c ng chứng viên”. T i biên bản bàn giao nhà và nhận tiền ngày 26-6-2013 có ghi “... ng Trần Quốc L đã tiến hành bàn giao số tiền theo hợp đồng chuyển nhượng là 3.700.000.000đ cho ông D bà N đã nhận đủ số tiền trên (bằng tiền mặt)...”. Như vậy, theo tiêu đề của văn bản có việc giao nhà nhưng nội dung của văn bản l i ghi ông L tiến hành bàn giao tiền theo hợp đồng chuyển nhượng, mà theo hợp đồng chuyển nhượng hai bên h ng thỏa thuận bán nhà trên đất. Căn cứ vào điều hoản thanh toán của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1278 thì việc giao nhận tiền gi a ông L và ông D, bà N trước hi hợp đồng và căn cứ vào giấy nhận nhà giao tiền ngày 26-6-2013 thì ông L và ông D, bà N giao nhận tiền vào ngày 26-6-2013 chậm so với ghi trong hợp đồng là 01 ngày và việc giao nhận tiền là bằng tiền mặt. Trong hi đó, quá trình giải quyết vụ án và t i phiên t a ông L, ông D, bà N đều trình bày ông D, bà N nợ ông L số tiền 1,2 tỷ đồng và ông D, bà N nợ Ngân hàng 1,7 tỷ đồng. Ông L trình bày tháng 4 năm 2013 ông trả cho Ngân hàng là 1,7 tỷ đồng, c n vợ chồng ông D, bà N trình bày số tiền 1,7 tỷ đồng trả cho Ngân hàng vào tháng 1 và tháng 5 và tháng 6 năm 2013 do bà N trực tiếp trả. Như vậy, việc giao tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất các bên trình bày h ng thống nhất và thể hiện ba thời điểm giao tiền hác nhau cụ thể là theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì việc giao tiền trước hi hợp đồng một ngày, c n theo biên bản giao nhận tiền ngày 26-6-2013 thì các bên nhận đủ 3,7 tỷ đồng bằng tiền mặt vào ngày 26-6-2013 tức là sau hi hợp đồng 1 ngày, theo lời hai của các bên thì do ông D, bà N nợ ông L 1,2 tỷ đồng, nợ Ngân hàng 1,7 tỷ đồng để lấy được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông L phải trả Ngân hàng 1,7 tỷ đồng, sau đó trừ lãi các hoản ông L c n phải thanh toán cho ông D, bà N 700.000.000đ. Ông D, bà N trình bày số tiền 700 triệu đồng đã dùng vào việc trả nợ, nhưng NLQ4, NLQ5 và NLQ3 kh ng nhận được tiền trả nợ từ ông D, bà N. T i phiên t a, ông L trình bày việc cho ông D, bà N vay 1,2 tỷ đồng có giấy biên nhận nhưng do đã mua nhà đất của ông D, bà N nên không còn lưu gi giấy biên nhận vay tiền n a. Hội đồng t ử t thấy, chưa có đủ căn cứ ác định ông L và ông D, bà N có việc giao nhận tiền là 3,7 tỷ đồng hoặc có việc đối trừ nợ như các bên trình bày.

Về việc c ng chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 90m2 đất t i thửa 55 tờ bản đồ số 8: Theo lời trình bày của ng Hoàng Thế Long-Trư ng văn ph ng c ng chứng thì Văn ph ng c ng chứng đã thực hiện việc c ng chứng theo đ ng quy định của pháp luật, như tiếp nhận hồ sơ, so n thảo hợp đồng, hai bên trước mặt C ng chứng viên. Tuy nhiên, t i sổ c ng chứng hợp đồng quyển số 01/TPCC-HNGD của NLQ2, t i trang 12 có 3 hợp đồng ghi số 1278 trong đó có hợp đồng của ng Trần Quốc L với ông D, bà N. Ông Ltrình bày có 03 số hợp đồng 1278 là do một số đương sự h ng đủ điều iện hoặc h ng tiếp tục hợp đồng lên g ch bỏ, số thứ tự thứ 2 là hợp đồng của ông L với ông D, bà N c n số thứ ba là do nhầm lẫn dẫn đến trùng số. T a án yêu cầu Văn ph ng c ng chứng uất trình hóa đơn thu lệ ph c ng chứng hợp đồng gi a ông D, bà N và ông L, nhưng Văn ph ng c ng chứng h ng uất trình được. Theo biên bản ác minh ngày 28-12-2018 S tư pháp t nh Nam Định cung cấp hợp đồng 1278 có trùng số là sai ót, tuy nhiên theo quy định của pháp luật h ng bị ử l mà ch bị nhắc nh . Do vậy, cần rút inh nghiệm với NLQ2.

Về vấn đề nộp thuế phi n ng nghiệp cho 90m2 thuộc thửa 55 tờ bản đồ số 8 t i Tổ dân phố số 1, Thị trấn Yên Định, huyện Hải Hậu. X t thấy, ngày 06-10-2017 NLQ1 ra quyết định số 02/QĐ-CCTHADS thi hành bản án số 01/2017/DSST ngày 12-01-2017 của T a án nhân dân huyện Hải Hậu và bản án số 25/2017/DS-PT ngày 09-8-2017 của T a án nhân dân t nh Nam Định đối với bà Ph m Thị Th y N; ngày 06-10-2017 NLQ1 ra quyết định số 01/QĐ-CCTHADS thi hành thi hành bản án số 40/2016/DSST ngày 28-9-2016 của T a án nhân dân huyện Hải Hậu và bản án số 06/2017/DS-PT ngày 06-3-2017 của T a án nhân dân t nh Nam Định đối với bà Ph m Thị Th y N và ông Ph m Ngọc D; ngày 30-01-2018 NLQ1 ra quyết định số 30/QĐ-CCTHADS thi hành thi hành quyết định số 37/2017/QĐST-TCDS ngày 19-7-2017 của T a án nhân dân huyện Hải Hậu đối với bà Ph m Thị Th y N và ông Ph m Ngọc D. T i biên bản làm việc ngày 12-10-2017 gi a NLQ1 với ông D về việc yêu cầu ông D cung cấp tài sản của vợ chồng ông D thì ông D mới uất trình hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gi a ông D, bà N với ông L số 1278 ngày 25-6-2013. Quá trình giải quyết vụ án và t i phiên t a ông L uất trình hai biên lai thu thuế 90m2 đất vào ngày 17- 02-2018 và ngày 14-11- 2017 đều ghi tên ông L với số tiền mỗi biên lai là 67.500đ. X t thấy, từ năm 2016 tr về trước việc nộp thuế 90m2 đất đều do vợ chồng ông D nộp, sau khi NLQ1 ra quyết định thi hành án bản án, quyết định của T a án đối với bà N, ông D và tiến hành làm việc với ông D, thì sau đó mới phát sinh biên lai thu thuế đất do ông L nộp nên việc nộp thuế đất của ông L h ng phù hợp với diễn biến quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất gi a ông D, bà N và ông L.

Hội đồng t ử thấy, từ hi vợ chồng ông D hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông L, đến việc hai bên giao nhận tiền và hợp đồng thuê nhà, thanh l tài sản, việc c ng chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, việc nộp thuế đất và giá thuê nhà đều h ng l gic, có nhiều mâu thuẫn và h ng ngay thẳng. Trong hi đó, trước hi chuyển nhượng quyền sử dụng 90m2 đất cho ông L thì ông D, bà N đã vay nợ của NLQ5 vào tháng 9, tháng 10 năm 2010 số tiền gốc là 720 triệu đồng và t i Quyết định c ng nhận thỏa thuận số 37/2017/QĐST-TCDS ngày 19-7-2017 của T a án huyện Hải Hậu đã buộc ông D, bà N trả nợ cho NLQ5 là 720.000.000đ tiền gốc và 68.000.000đ tiền lãi, tổng cộng 788.000.000đ. Và ngày 02-5-2012 bà N vay 3.000.000.000đ của NLQ3, trả cho NLQ3 30.000.000đ, sau đó h ng trả, t i bản án ph c th m số 25/2017/DS-PT ngày 09-8-2017 của T a án t nh Nam Định đã quyết định buộc bà N phải trả NLQ3 là 2.970.000.000đ. Và ngày 15-9-2012, ông D, bà N vay của NLQ4 là 950.000.000đ, trả 345.000.000đ, t i bản án số 06/2017/DS-PT ngày 06-3-2017 T a án t nh Nam Định đã quyết định buộc ông D, bà N phải trả cho vợ chồng NLQ4 là 605.000.000đ. NLQ4, NLQ5 và NLQ3 đã đ i nợ ông D, bà N nhiều lần nhưng h ng trả nợ cho họ, nên các ông bà này có đơn yêu cầu NLQ1 thi hành bản án, quyết định của T a án, quá trình Chi cục thi hành án tổ chức thi hành án thì vợ chồng ông D, bà N mới uất trình hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1278 ngày 25-6-2013 gi a ông D, bà N với ông L.

Như vậy, sâu chuỗi toàn bộ sự việc từ hi ông D, bà N vay nợ đến hi Chi cục thi hành án tổ chức thi hành 3 quyết định thi hành án thì ông D, bà N chưa hợp tác với các đương sự để trả nợ, việc hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1278 về bản chất nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho người thứ ba nên là giao dịch giả t o và bị v hiệu theo quy định t i Điều 129 BLDS năm 2005.

Mặt hác, căn cứ vào Điều 692 Bộ luật Dân sự 2005; hoản 4, Điều 146 Nghị định 18/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Ch nh phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003, tiết 2.13 mục 2 phần III Th ng tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ tài nguyên và m i trường quy định. Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được thực hiện trước ngày 01-7-2014 (trước ngày Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực) thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm thực hiện việc đăng biến động t i Văn ph ng đăng

quyền sử dụng đất được ác định thời điểm (giờ, ph t, ngày, tháng, năm) tiếp nhận hồ sơ hợp lệ. Theo Chi nhánh văn ph ng đăng đất đai huyện Hải Hậu cung cấp, Chi nhánh chưa nhận được hồ sơ yêu cầu cấp sổ đỏ do ông L nộp lần nào. T i phiên t a, ông L trình bày ng chưa đăng biến động đất đai đối với thửa đất số 55 tờ bản đồ số 8 do nhận chuyển nhượng của ông D, bà N t i Chi nhánh văn ph ng đăng đất đai huyện Hải Hậu. Như vậy, theo các quy định trên, thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1278 ngày 25-6-2013 gi a ông L và ông D, bà N lập t i NLQ2 đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 8, diện t ch 90m2 t i Tổ dân phố số 1, thị trấn Y, huyện H, t nh Nam Định là chưa có hiệu lực pháp luật.

Từ nh ng phân t ch nêu trên, Hội đồng t ử thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1278 ngày 25-6-2013 gi a ông L với ông D, bà N là v hiệu cả về nội dung và hình thức. Do vậy, h ng có căn cứ chấp nhận háng cáo của ông L, háng cáo của ông D và háng nghị của Viện iểm sát nhân dân huyện Hải Hậu.

T i phiên t a ông L đề nghị nếu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất v hiệu thì buộc ông D, bà N phải trả ông L số tiền 3,7 tỷ đồng. Hội đồng t thấy, cấp sơ th m đã tách yêu cầu này của ông L ra giải quyết bằng vụ dân sự hác, do vậy căn cứ Điều 270, 293 BLTTDS quy định về t nh chất, ph m vi của t ử ph c th m Hội đồng t ử h ng em t giải quyết.

Tuy nhiên, NLQ1 có văn bản số 238/2019/CV-CCTHADS ngày 24-9-2018 yêu cầu T a án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1278 ngày 25-6-2013 gi a ông D, bà N với ông L v hiệu, cấp sơ th m đã giải quyết yêu cầu độc lập này của NLQ1 và ác định hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu nhưng t i phần quyết định của bản án sơ th m h ng tuyên chấp nhận yêu cầu độc lập này của Chi cục thi hành án dân sự là thiếu ót cần r t inh nghiệm. Do vậy, cấp ph c th m cần bổ sung t i phần quyết định của bản án là chấp nhận yêu cầu độc lập của NLQ1.

Về án ph dân sự ph c th m: Do gi nguyên bản án sơ th m nên ông L và ông D phải nộp án ph dân sự ph c th m.

Các quyết định hác của bản án sơ th m h ng có háng cáo, háng nghị đã có hiệu lực ể từ ngày hết thời h n háng cáo, háng nghị cấp ph c th m h ng em t giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ hoản 1 Điều 308, hoản 2 Điều 296 BLTTDS; Điều 122; Điều 129; Điều 137; Điều 689; Điều 692 Bộ luật dân sự 2005; hoản 4, Điều 146 Nghị định 18/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Ch nh phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003, tiết 2.13 mục 2 phần III Th ng tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 02-8-2007 của Bộ tài nguyên và m i trường; Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án ph , lệ ph Toà án.

1. Kh ng chấp nhận háng cáo của ng Trần Quốc L và háng cáo của ng Ph m Ngọc D. Kh ng chấp nhận háng nghị của Viện iểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, t nh Nam Định. Gi nguyên án sơ th m.

2. Kh ng chấp nhận yêu cầu h i iện của ng Trần Quốc L.

3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của NLQ1.

Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1278, quyển số 1/TPCC-HĐGD ngày 25-6-2013 gi a ng Trần Quốc L và ông Ph m Ngọc D, bà Ph m Thị Th y N về việc chuyển nhượng thửa đất số 55, tờ bản đồ số 8, diện tích 90m2 t i Tổ dân phố số 1, Thị trấn Yên Định, huyện Hải Hậu, t nh Nam vô hiệu.

4. Án ph dân sự ph c th m: Ông L và ông D mỗi người phải nộp là 300.000đ nhưng được đối trừ với số tiền t m ứng án ph dân sự ph c th m ông L và ông D mỗi người đã nộp là 300.000đ t i biên lai số 0000412 ngày 10-5-2019 và biên lai số 0000411 ngày 10-5-2019 của NLQ1. Ông L và ông D đã nộp đủ án ph dân sự ph c th m.

5. Án ph dân sự sơ th m: Ông L phải nộp 300.000đ nhưng được trừ vào số tiền t m ứng án ph dân sự sơ th m ông L đã nộp là 300.000đ t i biên lai số 0000152 ngày 10-9-2018 của NLQ1. Ông L đã nộp đủ án ph dân sự sơ th m.

6. Về chi ph th m định và định giá tài sản: Ông Trần Quốc L phải nộp 3.000.000đ (ông L đã nộp ong).

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án ph c th m có hiệu lực thi hành ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ