- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Tô Bạch M và Ngôn Văn S - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyến bố bị cáo Tô Bạch M phạm tội“Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Ngôn Văn S phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐĂK NÔNG Bản án số: 49/2018/HSST Ngày 27-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuận và bà Phạm Thị Thơm.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Văn Thể.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2018 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Cư Jút xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2018/TLST-HS ngày12 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2018/QĐXXST-HS ngày15 tháng 11 năm 2018 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Tô Bạch M, sinh năm1976 tại tỉnh Cao Bằng; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn 05, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông; Dân tộc: Nùng; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Thẩm Văn C (đã chết) và bà Tô Thị S, sinh năm 1952; Vợ Nguyễn Thị K, sinh năm 1986 và 01 con, sinh năm 2008; Tiền án: Không; Tiền sự: 01, ngày 08/5/2005 bị cáo bị đưa vào Trung tâm cai nghiện ma túy bắt buộc theo quyết định số 513 ngày 10/5/2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Nông, nhưng bị cáo chưa chấp hành xong mà bỏ trốn khỏi cơ sở chữa bệnh; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/8/2018, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cư Jút - (Có mặt)
2. Họ và tên: Ngôn Văn S, sinh năm 1986 tại tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn 04, xã C, huyện C, tỉnh Đăk Nông; Dân tộc: Tày; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Ngôn Trọng T, sinh năm 1953 và bà La Thị Y (đã chết); Vợ Hoàng Thị Mỹ T, sinh năm 1991 và 01 con, sinh năm 2008; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/8/2018, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cư Jút - (Có mặt)
- Người làm chứng: Anh Phạm Văn Q. Địa chỉ: Thôn 15, xã C, huyện C, tỉnh Đăk Nông - (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ, ngày 15/8/2018 tại nhà bị cáo Tô Bạch M (thôn 05, xã Đ, huyện C), bị cáo và bị cáo Ngôn Văn S mỗi người góp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) để mua ma túy về sử dụng chung. Sau đó, S ở nhà chờ còn M cầm số tiền trên đi đến khu vực cầu 14, xã H, Tp B, tỉnh Đăk Lăk thì gặp một người đàn ông tên H (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) và hỏi mua 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) ma túy thì Hải đồng ý và đưa cho M 01 (một) gói ma túy, sau đó M bắt xe Buýt quay về nhà. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, M lấy ma túy từ gói vừa mua được đưa cho S một ít để sử dụng. Lúc này, Phạm Văn Q đến nhà gặp M và hỏi mua ma túy để sử dụng thì M đồng ý. Q đưa cho M 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) còn M lấy một ít ma túy từ gói của M đưa cho Q rồi M cất số ma túy còn lại vào túi quần để tiếp tục sử dụng chung với S. Số ma túy M bán cho Q là từ gói ma túy M và S góp tiền mua, nhưng việc bán ma túy cho Q là M tự quyết định, không trao đổi hay bàn bạc với S. Khi vừa thực hiện xong giao dịch mua bán ma túy trái phép thì bị bị Công an huyện Cư Jut bắt quả tang. Thu giữ tại túi quần bên trái mà Tô Bạch M đang mặc 01 (một) gói nhỏ được bọc bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, thu giữ tại túi quần bên trái phía trước mà Phạm Văn Q đang mặc 01 (một) gói được bọc bằng giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng.
Vật chứng của vụ án đã thu giữ gồm: 01 (một) gói nhỏ bên ngoài bọc giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, thu giữ trong túi quần bên trái phía trước mà Phạm Văn Q đang mặc; 01 (một) gói nhỏ bên ngoài bọc giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, thu giữ trong túi quần bên trái phía sau mà Tô Bạch M đang mặc; 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 100.000 đ (một trăm nghìn đồng) do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành, thu giữ tại túi quần phía sau bên trái mà Tô Bạch M đang mặc.
Tại bản kết luận giám định số: 57/KLMT-PC54 ngày 21/08/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông, kết luận:
- Chất rắn trong bì thư thứ nhất bên ngoài có ghi thu giữ tại túi quần bên trái phía sau của Tô Bạch M tại thời điểm bắt quả tang, được gửi giám định là chất ma túy, là Heroine, có khối lượng 0,1153 gam;
- Chất rắn trong bì thư thứ hai bên ngoài có ghi thu giữ 01 gói chất bột màu trắng bên túi quần trái của Phạm Văn Q tại thời điểm bắt quả tang, được gửi giám định là chất ma túy, là Heroine, có khối lượng 0,0041 gam;
- Hoàn lại đối tượng giám định gồm: chất rắn màu trắng trong bì thư thứ nhất hoàn lại sau giám định có khối lượng là 0,0439 gam. Chất rắn màu trắng trong bì thư thứ hai đã sử dụng hết cho công tác giám định.
Tại bản cáo trạng số: 51/CTr-VKS ngày 09 /11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút đã truy tố bị cáo Tô Bạch M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy “quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và truy tố bị cáo Ngôn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, các bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jut truy tố bị cáo là đúng, không oan.
Tại phiên tòa, các bị cáo không bào chữa gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo như bản cáo trạng, truy tố bị cáo Tô Bạch M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và truy tố bị cáo Ngôn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Tô Bạch M từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Ngôn Văn S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 0,0439 gam Heroine hoàn lại sau giám định và tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) do Tô Bạch M bán ma túy trái phép.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy như sau:
. Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cư Jut, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Đối với hành vi của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Khoảng 8 giờ ngày 15/8/2018 tại nhà bị cáo Tô Bạch M (Thôn 5, xã Đ, huyện C) bị cáo M và bị cáo S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Sau đó, M không bàn bạc với S mà tự ý lấy từ số ma túy của M và S bán cho Phạm Văn Q thì bị Công an huyện Cư Jut bắt quả tang, thu giữ trên người Quán 0,0041 gam, thu giữ trên người M 01 gói Heroine khối lượng 0,1153 gam.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo Tô Bạch M: Giữa bị cáo M và bị cáo S thống nhất góp tiền mỗi bị cáo 200.000 đồng, tổng cộng là 400.000đ để bị cáo M đi mua ma túy trái phép về sử dụng chung, sau khi mua về nhà, bị cáo M đưa cho bị cáo S sử dụng. Ngoài ra bị cáo M còn bán ma túy trái phép cho Q số tiền 200.000đ để kiếm lời, còn lại để bị cáo M và S sử dụng chung. Theo kết quả giám định khối lượng ma túy bị cáo M bán cho Q là 0,0041 gam, còn số ma túy để bị cáo M và S để lại sử dụng có khối lượng 0,1153 gam.
Xét hành vi phạm tội bị cáo Ngôn Văn S: Giữa bị cáo M và bị cáo S thống nhất góp tiền mỗi bị cáo 200.000đ, tổng cộng là 400.000 đồng để bị cáo M đi mua ma túy trái phép về sử dụng chung, khi mua ma túy về nhà,bị cáo M đưa cho bị cáo S sử dụng, sau đó bị cáo M bán ma túy trái phép cho Q 0,0041gam, khi bị cáo M bán ma túy cho Q thì bị cáo S không biết, số ma túy còn lại để các bị cáo M và S sử dụng chung, theo kết qủa giám định khối lượng 0,1153 gam.
Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jut truy tố bị cáo Tô Bạch M phạm tội “Mua bán trái phép chất may túy” và truy tố bị cáo Ngôn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, không oan.
Điều 249 quy định tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c. Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Điều 251 quy định tội mua bán trái phép chất ma túy:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy,thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Xét tính chất vụ án do các bị cáo gây ra là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý (Hêrôin), gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận bất bình trong nhân dân. Trên địa bàn tỉnh Đắk Nông nói chung và huyện C nói riêng, tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy xảy ra ngày càng nhiều, làm hại thể chất đạo đức con người, trong khi Đảng và Nhà nước đang ra sức cùng nhân dân bài trừ, đấu tranh phòng chống ma túy. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được những tác hại của việc tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý Nhà nước nghiêm cấm, nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện.
Đối với bị cáo Tô Bạch M đã có 01 tiền sự, ngày 08/5/2005 bị đưa vào Trung tâm cai nghiện ma túy bắt buộc theo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Đăk Nông, quá trình chấp hành, bị cáo đã bỏ trốn khỏi cơ sở chữa bệnh nên chưa chấp hành xong. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo thật nghiêm, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định thì mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Đối với bị cáo Ngôn Văn S cũng cần xử phạt bị cáo thật nghiêm, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định thì mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo M và S đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Do đó, các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy: Các bị cáo vẫn đang sống phụ thuộc vào gia đình, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế gia đình của các bị cáo khó khăn, con còn nhỏ. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Đối với đối tượng tên H đã bán ma túy cho bị cáo Tô Bạch M, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Jút đang tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với Phạm Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,0041 gam Heroine. Tuy nhiên, chưa đủ định lượng để cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nhưng Q là đối tượng nghiện ma túy nên Công an huyện Cư Jút đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Công an xã Đ, huyện C để lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,0439 gam Heroine hoàn lại sau giám định và tịch thu sung quỹ số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) do bị cáo M bán ma túy trái phép.
Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyến bố bị cáo Tô Bạch M phạm tội“Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Ngôn Văn S phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Tô Bạch M 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 15/8/2018).
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Ngôn Văn S 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 15/8/2018).
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Các điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,0439 gam Heroine hoàn lại sau giám định; Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) do bị cáo Tô Bạch M bán ma túy trái phép mà có được (Đặc điểm các vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/11/2018 giữa cơ quan Công an huyện Cư Jut và Chi cục thi hành án dân sự huyện C).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án: Buộc các bị cáo Tô Bạch M và Ngôn Văn S mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đăk Nông; - Sở tư pháp tỉnh Đăk Nông; - VKSND huyện Cư Jut; - Công an huyện Cư Jut; - Chi cục THADS huyện C; - Các bị cáo - Lưu HS. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Thị Lan |