vanban.org

Bản án 49/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình Tuyên án 21/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” .

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số: 136/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” .
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH PHỤ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2018/HS-ST
Ngày: 21 - 6 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trác

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà: Nguyễn Thị Đoan

2. Ông: Phạm Ngọc Túy

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ tham gia phiên toà: Ông Trần Viết Quyết - Kiểm sát viên

Hôm nay ngày 21 tháng 6 năm 2018. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 39/2018/TLST-HS ngày 15/5/2018; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2018/QĐXXST-HS ngày 08/6/2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Chí D, sinh ngày 10/8/1992. Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Nguyễn D T, sinh năm 1970 và bà Phạm Thị Kh, sinh năm 1971; Vợ: Vy Thị T1, sinh năm 1992, có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2016 Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tháng 3/2010 tham gia quân đội nhân dân Việt Nam, đến tháng 8/2011 xuất ngũ; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/4/2018, chuyển tạm giam ngày 21/4/2018 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Quỳnh Phụ, trích xuất có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều tối ngày 17/4/2018, bị cáo từ nhà đi nhờ xe của người đàn ông khoảng 35 tuổi, không biết tên, địa chỉ sang thị trấn Q, huyện Q để mua ma túy. Khi đến thị trấn Q, bị cáo đi bộ vào chợ Thành Đạt, thuộc thôn L, xã Q, huyện Q, gặp và mua của người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên và địa chỉ 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng, mua được ma túy, bị cáo bỏ vào túi quần bên trái rồi đi tìm nơi sử dụng thì bị Công an huyện Quỳnh Phụ phát hiện và nghi vấn D có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã mời D về trụ sở Ủy ban nhân dân xã Q để làm việc. Kiểm tra người D đã thu giữ tại túi quần bên trái 01 gói giấy màu xanh, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục, D khai đó là hêrôin vừa mua được với giá 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Chí D ở Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình không phát hiện thu giữ đồ vật tài sản gì có liên quan đến hành vi phạm tội.

Bản kết luận giám định số: 136/KLGĐ - PC54 ngày 18/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận:“Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,3392 gam (không phẩy ba nghìn ba trăm chín mươi hai gam”.

Bản cáo trạng số: 46/CT-VKSQP ngày 15 tháng 5 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ đã truy tố Nguyễn Chí D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như tại bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điều 38; điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Chí D mức án từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trước phiên tòa hôm nay cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Chí D đều khai nhận: Khoảng chiều tối ngày 17/4/2018, bị cáo mua một gói ma túy, loại hêrôin với giá 200.000 đồng của một người đàn ông không biết tên và địa chỉ tại thôn L, xã Q, sau khi mua được ma túy, bị cáo tìm nơi sử dụng thì bị Công an huyện Quỳnh Phụ phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng anh Vũ Viết C, ông Lê Quang K (bút lục số: 50-59). Ngoài ra còn được chứng minh bằng Biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục số: 01, 02); Biên bản niêm phong vật chứng (bút lục số: 04); Bản kết luận giám định 136/KLGĐ - PC54 ngày 18/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (bút lục số: 08). Như vậy có đầy đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Điều 249 BLHS: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

……………

c) Heroin, Cocain, Methamphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

………..

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản

Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả vụ án cùng các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ma túy là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm nguy hiểm, phá vỡ hạnh phúc nhiều gia đình, kìm hãm sự phát triển kinh tế, vì vậy pháp luật Nhà nước ta đã có những chế tài nghiêm khắc giành cho loại tội phạm này nhằm hạn chế và tiến tới xóa bỏ loại tội phạm này khỏi đời sống xã hội. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình phạm tội, bị cáo đã tàng trữ trái phép 0,3392 gam heroin, như vậy đã phạm vào tình tiết quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự . Do vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo bị cáo nói riêng cũng như phòng chống tội phạm nói chung. Tuy nhiên cũng xét bị cáo sau khi phạm tội khai báo thành khẩn, có thời gian tham gia quân đội nhân dân Việt Nam. Do đó cần áp dụng điểm s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự 2015, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Bị cáo mắc nghiện ma túy, mục đích tàng trữ trái phép ma túy là để sử dụng cho bản thân, không có thu nhập, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên và địa chỉ ở khu vực thôn L, xã Q, huyện Q. Quá trình điều tra không xác định được người đàn ông này, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý người bán ma túy cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số: 136/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình.

Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” .

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điều 38; điều 50; của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt Nguyễn Chí D : 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/4/2018.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số: 136/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Bình.

(Chi tiết như tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/5/2018 – BL: 72 )

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Chí D phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/6/2018).

Cỡ chữ