vanban.org

Bản án 49/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Khoản điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trương Lệ H; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H ly hôn S"
  • Tòa quyết gì? Khoản điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2018/HNGĐ – ST
Ngày: 25/10/2018
V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH – TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Nam Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Xuân Đạm

Ông Mai Quế Anh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Anh Hùng – Thư ký Tòa án Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Kỳ - Kiểm sát viên

Ngày 25/10/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 399/2018/TLST – HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2018, về việc tranh chấp “Xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2018/QĐST - HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trương Lệ H, sinh năm: 1975 Địa chỉ: Tổ 6, ấp 5, xã Lộc Thái, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước

Bị đơn: Ông Trần Văn S, sinh năm: 1971 Địa chỉ: KP Ninh Phú, TT Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước Các đương sự có đơn vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 02 tháng 10 năm 2018, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trương Lệ H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông S tự nguyện sống chung với nhau vào năm 1995 nhưng không có đăng ký kế hôn. Trước khi sống chung hai bên có tìm hiểu nhau khoảng 01 năm. Sau đó vợ chồng sống tự lập tại khu phố Ninh Phú, thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cãi nhau nên cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Nay bà H xin ly hôn với ông S.

Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thanh Giang – sinh năm: 1997, con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Hiện nay bà H không có mang thai, vợ chồng không có con nuôi.

Về tài sản chung: Bà H và ông S tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà H và ông S không nợ ai cũng không ai nợ lại.

Bị đơn ông Trần Văn S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất với bà H, Ông S và bà H tự nguyện sống chung với nhau vào năm 1995 nhưng không có đăng ký kế hôn. Trước khi sống chung hai bên có tìm hiểu nhau khoảng một năm. Sau đó vợ chồng sống tự lập tại khu phố Ninh Phú, thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, nên cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Nay ông S đồng ý ly hôn với bà H.

Về con chung: Thống nhất như bà H. Ông S và bà H có một con chung, con tên Trần Thanh Giang – sinh năm: 1997, con đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Hiện nay bà H không có mang thai, vợ chồng không có con nuôi.

Về tài sản chung: Ông S và bà H tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Về việc chấp hành tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc xác định mối quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét sử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh không có kiến nghị về tố tụng.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Lệ H.

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trương Lệ H và ông Trần Văn S.

Về con chung: Con đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về tài sản chung: Bà H và ông S tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Bà H và ông S khai không có nên không xem xét.

Về án phí: Bà H chịu án phí theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Trương Lệ H có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh giải quyết ly hôn với ông Trần Văn S. Xét ông S cư trú tại khu phố Ninh Phú, thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Đối với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy bà H và ông S tự nguyện chung sống từ năm 1995, có con chung, có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nhưng bà H và ông S vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó theo quy định tại Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”. Nay bà H và ông S đều thừa nhận phát sinh mâu thuẫn, hiện không còn tình cảm với nhau và thống nhất ly hôn, căn cứ vào biên bản xác Minh tại UBND thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh thì ông S, bà H chưa đăng ký kết hôn nên có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử không công nhận bà H và ông S là vợ chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhận gia đình.

Về con chung: Bà H và ông S có một người con chung tên Trần Thanh Giang – sinh năm: 1997. Xét thấy con đã trưởng thành, bà H và ông S không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Bà H và ông S không yêu cầu giải quyết nên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy bà H chịu số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Khoản điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 8, Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trương Lệ H;

1. Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trương Lệ H và ông Trần Văn S.

Về con chung: Con đã trưởng thành, bà H và ông S không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Bà H và ông S không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí: Bà H chịu 300.000đ án phí Hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh theo biên lai thu tiền số 0006198 ngày 09/10/2018.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ