vanban.org

Bản án 49/2018/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 10/04/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/04/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của nguyên đ n à Ninh T H; chấp nhận một phần háng cáo của ị đ n ông Đinh V H1, bà Nguyễn T H2: Sửa Bản án d n sự s thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện H về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản” giữa nguyên đ n à…

Chấp nhận một phần yêu cầu h i iện của à Ninh T H về việc: "Tranh chấp kiện đòi tài sản” với vợ ch ng ông Đinh V H1, bà Nguyễn T H2. Buộc vợ ch ng ông Đinh V H1, bà Nguyễn T H2, phải trả cho à Ninh T H số tiền 70.000.000đ (Bảy mư i triệu đ ng). Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp kiện đòi lại tài sản"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của nguyên đ n à Ninh T H; chấp nhận một phần háng cáo của ị đ n ông Đinh V H1, bà Nguyễn T H2: Sửa Bản án d n sự s thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện H về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản” giữa nguyên đ n à…
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố t ng d n sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 49/2018/DS-PT
Ngày 10-4-2018
V/v Tranh chấp kiện đòi tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mừng

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hữu Hồng

Bà Vũ Thị Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Tỏ - Thư T a án nh n d n t nh m Đ ng.

- Đại diện iện Kiểm sát nhân dân t nh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thế Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2018 tại tr s T a án nh n d n t nh m Đ ng xét xử phúc thẩm công hai v án th l số: 25/2018/TLDS-PT ngày 05 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp kiện đòi tài sản.

Do ản án d n sự s thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện H ị háng cáo.

Theo Quyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số: 69/2018/QĐ-PT ngày 20 tháng 3 năm 2018 giữa các đư ng sự:

- Nguyên đơn: Bà Ninh T H, sinh năm 1966 Cư trú tại: 51/80, khu chợ T L, thị trấn N B, huyện H, t nh Lâm Đ ng.

- Bị đơn: Vợ ch ng ông Đinh V H1, sinh năm 1955, bà Nguyễn T H2, sinh năm 1957. Cùng cư trú tại: Số 101, thôn 3, xã M L, huyện H, t nh Lâm Đ ng.

Do có kháng cáo của nguyên đ n bà Ninh T H, háng cáo của bị đ n ông Đinh V H1, bà Nguyễn T H2.

(Các đương sự đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm,

Theo đơn khởi kiện ngày 10/10/2016, ngày 25/4/2017 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Ninh T H trình bày:

Ngày 25/9/2010 ( m lịch) vợ ch ng ông H1, bà H2 có chốt án cho à 4.000 g cà phê nh n hô loại Rô usta, à đã giao đủ tiền cho ông H1, bà H2 nhưng do thời gian quá l u nên à hông nhớ c thể số tiền đã giao cho ông H1, bà H2 là bao nhiêu. Sau đó ông H1, bà H2 trả cho à được 54.000.000đ tư ng ứng với 01 tấn cà phê nh n hô loại Rô usta, c n nợ lại 03 tấn cà phê nh n hô loại Rô usta quy thành tiền là 150.000.000đ đến nay chưa thanh toán cho à nên à yêu cầu vợ ch ng ông H1, bà H2 phải trả cho à 03 tấn cà phê nh n hô loại Rô usta tư ng ứng với số tiền là 150.000.000đ. Ngoài ra à hông yêu cầu gì thêm.

Bị đơn ông Đinh V H1, bà Nguyễn T H2 trình bày:

Vợ ch ng ông à thừa nhận có chốt án cho bà H 04 tấn cà phê nh n hô loại Rôbusta với giá là 20.000đ/ g thành tiền là 80.000.000đ. Vợ ch ng ông, à đã nhận đủ số tiền là 80.000.00đ từ bà H. Sau đó ngày 23/12/2010, vợ ch ng ông, à có trả cho bà H được 54.000.000đ tư ng ứng với 01 tấn cà phê nh n. C n lại 03 tấn cà phê nh n hô loại Rô usta thì vợ ch ng ông, à trả ằng tiền mặt, c thể: Ngày 26/4/2011( m lịch) vợ ch ng ông, à trả cho bà H số tiền là 80.000.000đ có ông Trần Đ V, à Phạm A đi cùng bà H chứng iến; ngày 11/5/2011 ( m lịch) vợ ch ng ông, à trả tiếp cho bà H số tiền là 50.000.000đ, lần này cũng có à Phạm A và ông Trần Đ V đi cùng bà H chứng iến. Cả hai lần trả tiền nêu trên ông, à đều yêu cầu bà H viết giấy iên nhận tiền nhưng bà H cho rằng hi nào trả hết tiền lãi thì mới viết giấy iên nhận. Như vậy vợ ch ng ông, à đã trả cho bà H được số tiền là 184.000.00đ là đã trả dư tiền cho bà H nên hông đ ng trả tiền theo yêu cầu của bà H. Vợ ch ng ông, à hông yêu cầu bà H phải trả lại cho vợ ch ng ông, à số tiền dư. Ngoài ra vợ ch ng ông, à hông yêu cầu gì thêm.

T a án đã tiến hành h a giải nhưng hông thành

Tại Bản án s thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2018 của T a án nhân dân huyện H đã xử :

Chấp nhận một phần yêu cầu h i iện của à Ninh T H về việc "Tranh chấp kiện đòi lại tài sản” với vợ ch ng ông Đinh V H1, bà Nguyễn T H2. Buộc vợ ch ng ông Đinh V H1, bà Nguyễn T H2, phải trả cho à Ninh T H số tiền 70.000.000đ.

Ngoài ra ản án c n tuyên về án phí, quyền háng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đư ng sự.

Ngày 06/02/2018 Nguyên đ n bà H háng cáo một phần ản án s thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm uộc ị đ n vợ ch ng ông H1, bà H2 có nghĩa v trả cho à số tiền 150.000.000đ.

Ngày 05/02/2018 vợ ch ng ị đ n ông H1, bà H2 háng cáo toàn ộ Bản án s thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2018 của T a án nhân dân huyện L H.

Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đ n bà H; ị đ n ông H1, bà H2 vẫn giữ nguyên yêu cầu háng cáo và đề nghị chấp nhận háng cáo.

Đại diện Viện iểm sát nh n d n t nh m Đ ng nêu iến về việc chấp hành pháp luật của Hội đ ng xét xử: Tại giai đoạn phúc thẩm cũng như tại phiên t a hôm nay, Hội đ ng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố t ng d n sự. Đ ng thời, nêu quan điểm đề nghị: Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của nguyên đ n bà H, hông chấp nhận yêu cầu háng cáo của ị đ n ông H1, bà H2. Căn cứ hoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố t ng d n sự, giữ nguyên Bản án s thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong h s v án được thẩm tra tại phiên t a, căn cứ vào ết quả tranh luận; Ý iến của đại diện Viện iểm sát; Hội đ ng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Theo đ n h i iện và chứng cứ do nguyên đ n cung cấp thì phía ị đ n vợ ch ng ông Đinh V H1, bà Nguyễn T H2 có nợ của vợ ch ng nguyên đ n ông Nguyễn V C, bà Ninh T H số tiền 150.000.000đ, đ y là tài sản chung của vợ ch ng. Ngày 28/10/2015 ông C (ch ng bà H chết). Về hàng thừa ế thứ nhất của ông C có ốn người g m bà H (vợ ông C), các con ruột g m chị Nguyễn Thị T T, anh Nguyễn H S, anh Nguyễn Đ A1. Quá trình giải quyết v án chị T, anh S, anh A1 có đ n từ chối hông tham gia tố t ng và đ ng để bà H tự định đoạt số nợ trên (B 07). Do đó T a án cấp s thẩm hông đưa những người thừa ế quyền và nghĩa v của ông C vào tham gia tố t ng để giải quyết trong cùng v án là đúng quy định của pháp luật.

Về quan hệ tranh chấp: Vào ngày 25/9/2010 ( m lịch) vợ ch ng ông H1, bà H2 có thỏa thuận chốt án cho bà H 04 tấn cà phê; ngày 23/12/2010 vợ ch ng ông H1, bà H2 đã trả 54.000.000đ tư ng ứng với 1 tấn cà phê nhân + lãi, c n lại 3 tấn cà phê nh n hai ên chốt nợ ằng tiền là 150.000.000đ, thời hạn trả ngày 04/02/2011(âm lịch). Theo nguyên đ n trình ày thì đến hạn trả nợ; vợ ch ng ông H1, bà H2 chưa thanh toán còn phía ị đ n cho rằng đã trả hết nợ nên các ên phát sinh tranh chấp. Do thời hiệu h i iện của Hợp đ ng d n sự vay tài sản đã hết nên cấp s thẩm xác định quan hệ tranh chấp: “Tranh chấp kiện đòi tài sản” là đúng pháp luật.

Xét háng cáo của nguyên đ n bà H, háng cáo của ị đ n ông H1, bà H2; đối chiếu với tài liệu chứng cứ có trong h s và lời hai của các đư ng sự thể hiện:

Ngày 25/9/2010 ( m lịch) vợ ch ng ông H1, bà H2 có chốt àn cho bà H 4.000kg cà phê nh n hô loại Rô usta, bà H đã giao đủ tiền cho ông H1, bà H2 nhưng chưa nhận cà phê. Ngày 23/12/2010 ông H1, bà H2 có trả cho bà H được 54.000.000đ tư ng ứng với 01 tấn cà phê nhân cùng hoản lãi. C n lại 03 tấn cà phê nhân được quy thành tiền là 150.000.000đ, các bên đã thống nhất viết giấy nhận nợ, hẹn đến ngày 04/02/2011 ( m lịch) sẽ trả hết và được các ên thừa nhận, ông H1 là người viết giấy nhận nợ (Bút l c 30). Theo ị đ n ông H1, bà H2 trình bày thì sau khi viết giấy nợ, vào ngày 26/4/2011 ( m lịch) ị đ n đã trả được cho nguyên đ n số tiền 80.000.000đ và ngày 11/5/2011 ( m lịch) trả 50.000.000đ, hi trả có ông Trần Đ V, bà Phạm A làm chứng. Về phía nguyên đ n bà H ch thừa nhận có nhận của phía ị đ n ông H1, bà H2 số tiền 80.000.000đ nhưng cho rằng số tiền trên là do ị đ n trả vào hoản tiền 215.000.000đ mà ị đ n vay năm 2009 chứ hông phải là hoản nợ của 3000 g cà phê.

Căn cứ vào chứng cứ do chính nguyên đ n cung cấp (Bút l c 38) về giấy nhận nợ ngày 28/4/2011 m lịch do ông H1 có nội dung:“Trả trước 80.000.000đ (tám chục) còn nợ lại 135.000.000đ, hẹn trả hai đợt - Mùng 6/5 âm lịch, mùng 10/5/2011 âm lịch”,phía dưới có hai người làm chứng ký nhưng ị xé rách. Xét thấy giấy nhận nợ này hông ghi c thể trả hoản tiền nào nên chứng cứ do bà H xuất trình để chứng minh ông H1, bà H2 có vay của nguyên đ n số tiền 215.000.000đ vào năm 2009 là hông phù hợp. Về số tiền trả 80.000.000đ c n nợ lại 135.000.000đ và hẹn trả làm hai đợt nêu trên là hoàn toàn trùng khớp, phù hợp với lời hai của hai nh n chứng là ông Trần Đ V và à Phạm A xác nhận. H n nữa, theo lời hai của bà H trong quá trình tham gia tố t ng tại cấp s thẩm cũng như tại phiên t a phúc thẩm có nhiều m u thuẫn như khi thì bà H hai số tiền 80.000.000đ là do ông H1, bà H2 mang vào nhà của bà để trả, hi thì hai số tiền 80.000.000đ là do à cùng với bà L A đến nhà ông H1, bà H2 lấy. Do đó, cần xác định việc ông H1 bà H2 có trả cho bà H 80.000.000đ vào hoản nợ 150.000.000đ mà ông H1 vào “giấy lợ cà phê” ngày 04/02/2011 là phù hợp với chứng cứ do chính nguyên đ n xuất trình, riêng số tiền ghi c n nợ lại 135.000.000đ là ao g m cả hoản lãi, phù hợp với lời hai của hai nh n chứng là ông V và bà A.

Đối với số tiền 50.000.000đ ông H1, bà H2 hai đã trả cho bà H vào ngày 11/5/2011 ( m lịch) thì thấy. Theo ông H1 thì tại thời điểm trả số tiền trên thì có ông V và bà L A là người làm chứng. Qua xem xét cho thấy “giấy hất nợ” này do ông V ghi ch có chữ của ông H1 và ông V (người làm chứng) , hông có chữ và xác nhận của bà H, trong hi đó bà H lại hông thừa nhận. Do vậy lời hai và giấy xác nhận của hai nh n chứng ông V và bà A về việc đã trả cho bà H số tiền 50.000.000đ vào ngày 11/5/2011(âm lịch) là hông có c s để chấp nhận.

Từ ph n tích trên, cấp s thẩm xác định ông H1, bà H2 nợ bà H số tiền 150.000.000đ, đã trả được 80.000.000đ còn lại 70.000.000đ chưa thanh toán nên buộc vợ ch ng ông H1, bà H2 phải trả cho bà H số tiền còn nợ là 70.000.000đ là phù hợp nên hông có c s chấp nhận háng cáo của nguyên đ n bà H, háng cáo của ị đ n ông H1, bà H2, giữ nguyên ản án s thẩm.

Về án ph :

Do yêu cầu háng cáo hông được chấp nhận nên nguyên đ n bà H phải chịu án phí d n sự phúc thẩm theo qui định.

Căn cứ điểm đ hoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy an Thuờng v Quốc Hội về án phí, lệ phí T a án thì ị đ n ông Đinh V H1, bà Nguyễn T H2 là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn toàn ộ án phí nhưng T a cấp s thẩm uộc ông H1, bà H2 phải chịu án phí là hông đúng nên sửa ản án về phần án phí d n sự s thẩm. Do sửa Bản án d n sự s thẩm nên ông Đinh V H1, bà Nguyễn T H2 hông phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ hoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố t ng d n sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy an Thường v Quốc Hội về án phí, lệ phí T a án.

Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của nguyên đ n à Ninh T H; chấp nhận một phần háng cáo của ị đ n ông Đinh V H1, bà Nguyễn T H2: Sửa Bản án d n sự s thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện H về việc “Tranh chấp kiện đòi tài sản” giữa nguyên đ n à Ninh T H, ị đ n ông Đinh V H1, bà Nguyễn T H2. Xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu h i iện của à Ninh T H về việc: "Tranh chấp kiện đòi tài sản” với vợ ch ng ông Đinh V H1, bà Nguyễn T H2. Buộc vợ ch ng ông Đinh V H1, bà Nguyễn T H2, phải trả cho à Ninh T H số tiền 70.000.000đ (Bảy mư i triệu đ ng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải chịu số tiền lãi theo quy định Điều 357 Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí:

Buộc bà Ninh T H phải chịu 4.000.000đ tiền án phí d n sự s thẩm và 300.000đ án phí d n sự phúc thẩm tổng cộng là 4.300.000đ, được trừ vào số tiền 3.750.000đ bà H đã nộp tạm ứng án phí theo iên lai thu số 0002859 ngày 25/4/2017 và 300.000đ theo biên lai thu số 0000377 ngày 07/02/2018 của Chi c c Thi hành án d n sự huyện H. Nguyên đ n bà H c n phải chịu 250.000đ (Hai trăm năm mư i ngàn đ ng) tiền án phí.

Hoàn trả cho vợ ch ng ông Đinh V H1, bà Nguyễn T H2 số tiền 300.000đ đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0000381 ngày 12/02/2018 của Chi c c Thi hành án d n sự huyện H.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ