vanban.org

Bản án 49/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 29/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Ma Đình Ph phạm tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm h, p khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS. Xử phạt bị cáo Ma Đình Ph 11 (mƣời một) năm tù giam. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Ma Đình Ph - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ma Đình Ph phạm tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 41 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 49/2017/HSST
Ngày 29/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƢƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Quang Nhanh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tuấn Trung

2. Ông Phạm Hữu Hoàn

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phƣơng - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Phú Lƣơng.

Đại diện VKSND huyện Phú Lương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở TAND huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên đã mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2017/HSST ngày 25 tháng 8 năm 2017, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 44/2017/HSST-QĐ ngày 05 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Ma Đình Ph. Tên gọi khác: Không – Sinh năm 1978.

Nơi ĐKHKTT: Bản Đ, xã L, huyện C, tỉnh B. Dân tộc: Tày. Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 06/12. Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp. Con ông: Ma Đình T1 (Đã chết) và bà Hoàng Thị T2 – Sinh năm 1956. Vợ: Lê Thị O – Sinh năm 1982. Con: 02 con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008. Tiền sự: Không.

Tiền án: 02

- Tại bản án số 32/2009/HSST ngày 11/8/2009 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kan xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

- Tại bản án số 63/2013/HSST ngày 29/11/2013 của Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù giam.

Bị cáo không bị giam giữ trong vụ án này. Hiện bị cáo đang cải tạo tại Trại giam Phú Sơn 4, Tổng cục VIII, Bộ Công an. Có mặt.

- Người làm chứng: 1. Anh Nguyễn Cao L – Địa chỉ: Phƣờng G, TP. N, tỉnh T. Hiện là phạm nhân đang Trại giam S (Vắng mặt) 2. Anh Nguyễn Hữu T – Địa chỉ: Phƣờng Q, TP. N, tỉnh T. Hiện là phạm nhân đang cải tạo tại Trại giam S (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Hồi 18 giờ 10 phút ngày 27/7/2016 tại cổng Phân trại số 1, Trại giam S (đóng trên địa bàn xã C, huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên), cán bộ Phân trại số 1 phát hiện và bắt quả tang phạm nhân Ma Đình Ph đang tàng trữ trái phép chất ma túy .

Vật chứng thu giữ gồm: Thu trong l hậu môn của Ph 01 gói ni lông màu trắng đƣợc cuốn bên ngoài b ng băng dính màu đen, bên trong có 02 gói nhỏ, gói thứ nhất là gói chất bột màu trắng nghi ma túy loại heroin đƣợc gói bên ngoài b ng lớp ni lông màu trắng, gói thứ hai là gói chất tinh thể rắn màu trắng nghi ma túy tổng hợp dạng đá đƣợc gói bên ngoài b ng 01 lớp ni lông màu trắng.

Tại kết luận giám định số 108/KL-PC54 ngày 21/12/2016 của phòng KTHS Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Chất bột màu trắng thu của Ph là chất Heroin, có trọng lƣợng (khối lƣợng) 6,55 gam; chất tinh thể rắn màu trắng thu giữ của Ph là chất Methamphetamine, có trọng lƣợng (khối lƣợng) 4,59 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Ph khai nhận: khoảng 13 giờ 30 phút ngày 27/07/2016. Khi đi chuẩn bị xuất trại đi lao động, Ph gặp phạm nhân V Đăng Th (SN: 1992, nơi ĐKHKTT: xóm M1, xã M2, huyện T3, tỉnh B2, là phạm nhân đang cải tạo tại Đội 28,Phân trại số 1, Trại giam S), Th nó với Ph là Th có gói ma túy để trong bao thuốc lá Thăng Long gần gốc cây xà cừ ở hiện trƣờng lao động của Đội 37, nếu Ph mang gói ma túy đó vào trong trại giam cho Th, Th s trả công cho Ph b ng tiền hoặc là Ph mua đồ sinh hoạt ở căng tin trong trại thì Th s trả tiền. Ph đồng ý rồi xuất trại ra hiện trƣờng lao động của Đội 37. Khi đến hiện trƣờng lao động Ph đi ra khu vực gốc cây xà cừ và thấy có một bao thuốc lá Thăng Long. Ph nhặt lên mở ra xem thấy bên trong có 01 gói ma túy đƣợc gói bên ngoài b ng lớp băng dính màu đen, Ph cầm gói ma túy cất giấu vào trong túi quần bên trái đang mặc trên ngƣời, vứt vỏ bao thuốc lá đi rồi tiếp tục lao động. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, sau khi lao động xong , Ph ra bể nƣớc của Đội 37 tắm. Tại đây, Ph lấy gói ma túy trong túi ra, dùng tay trái nhét vào trong l hậu môn của Ph, mục đích vận chuyển vào trong trại giam cho Th. Cất giấu gói ma túy vào hậu môn xong, Ph cùng các phạm nhân khác về làm thủ tục nhập trại thì bị bắt quả tang.

Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ đã nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Ma Đình Ph. Bản cáo trạng số 47/QĐ-VKS ngày 24 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lƣơng truy tố bị cáo Ma Đình Ph về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 194 BLHS.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ma Đình Ph phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm h, p Khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 điều 46, Điều 51 BLHS.

Xử phạt bị cáo Ma Đình Ph mức án từ 11 đến 12 năm tù giam.

Đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến gì.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin đƣợc hƣởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Lƣơng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét về hành vi của bị cáo: Hồi 18 giờ 10 phút ngày 27/7/2016, tại cổng phân trại số 1, Trại giam S (đóng trên địa bàn xã C, huyện Phú Lƣơng, Thái Nguyên), Ma Đình Ph có hành vi tàng trữ trái phép 6,55 gam Heroin và 4,59 gam Methamphetamine, mục đích vận chuyển vào bên trong trại giam để kiếm lời, thì bị bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy trên.

Hành vi của bị cáo Ma Đình Ph đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm h, p khoản 2 Điều 194 BLHS 1999. Nhƣ vậy, cáo trạng số 47/QĐ-VKS ngày 24 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lƣơng truy tố bị cáo Ma Đình Ph về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 194 BLHS là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Điều luật quy định nhƣ sau:

“1. Người nào…, vận chuyển…, trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

h, Heroin..có trọng lượng từ năm gam đến dưới 30 gam;

p, Tái phạm nguy hiểm”.

Xét tính chất của vụ án thuộc trƣờng hợp rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến những quy định của Nhà nƣớc về độc quyền quản lý các chất ma túy, làm ảnh hƣởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phƣơng. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân bị cáo thấy r ng, bị cáo là ngƣời có nhân thân xấu, đã có 02 tiền án và đang chịu sự quản lý, giáo dục, cải tạo tại Trại giam nhƣng bị cáo không tích cực cải tạo, sửa chữa để tiến bộ mà tiếp tục phạm tội mới, thể hiện ý thức coi thƣờng pháp luật.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần phải có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo mới đảm bảo đƣợc tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

Về nguồn gốc số ma túy, Ph khai vận chuyển thuê cho phạm nhân V Đăng Th, quá trình điều tra Th không thừa nhận, chƣa đủ cơ sở xử lý đối với Th, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau.

Về vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu T1 bên trong có 6,50 gam heroin sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu T2 bên trong có 4,25 gam chất ma túy loại methamphetmine còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu H3 bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu P1, băng dán nilon màu đen, nilon màu trắng thu giữ của Ma Đình Ph cần tịch thu tiêu hủy.

Cần buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà về hình phạt c ng nhƣ các vấn đề khác là phù hợp nên cần đƣợc chấp nhận.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Ma Đình Ph phạm tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy”

2. Áp dụng: Điểm h, p khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS.

Xử phạt bị cáo Ma Đình Ph 11 (mƣời một) năm tù giam.

Áp dụng Điều 51 BLHS tổng hợp với phần hình phạt còn lại bị cáo đang chấp hành theo Bản án số 63/2013/HSST ngày 29/11/2013 xử phạt bị cáo Ma Đình Ph 07 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 17/05/2013, tính đến ngày trích xuất 18/9/2017 bị cáo đã chấp hành đƣợc 04 năm 04 tháng 01 ngày, bị cáo còn phải chấp hành tiếp 03 năm 01 tháng 29 ngày. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 14 năm 01 tháng 29 ngày tù giam. Thời hạn tù tình từ ngày 19/9/2017.

3. Vật chứng của vụ án: Áp dụng điều 41 BLHS, điều 76 Bộ luật TTHS: Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu T1 bên trong có 6,50 gam heroin sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu T2 bên trong có 4,25 gam chất ma túy loại methamphetmine còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu H3 bên trong có 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu P1, băng dán nilon màu đen, nilon màu trắng thu giữ của Ma Đình Ph.

(Tình trạng vật chứng nhƣ biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2017 giữa Công an huyện Phú Lƣơng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lƣơng)

4. Về án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nƣớc.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết đƣợc quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ