- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu P - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Hữu P phạm tội “Cố ý gây thương tích”
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:49/2017/HSST Ngày 28/9/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hồng
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Xuân Thùy
2. Bà Hoàng Thị Hiền
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Nguyên, Cán bộ Toà án nhân dân huyện Đắk R’lấp.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tham gia phiên toà: Ông Phạm Huy Tiền, Kiểm Sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2017 tại phòng xét xử, Toà án nhân dân huyện Đắk R’Lấp xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 37/2017/HSST, ngaøy 20 thaùng 7 naêm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Hữu P, tên gọi khác: Xi N, sinh năm 1983 tại tỉnh Đồng Nai; trú tại: Thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: Lớp 11/12; con ông Trần Văn B, sinh năm 1951 và bà Phan Thị Kim L, sinh năm 1963; có vợ là Dương Thị D, sinh năm 1983; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2013; tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/3/2017 đến ngày 23/3/2016 được áp dụng biện pháp cho bảo lĩnh. Có mặt.
Người bị hại: Anh Nguyễn Thành T, sinh năm 1983
Địa chỉ: Thôn 11, xã N, huyeän Ñ, tænh Ñaêk Noâng. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của an h Nguyễn Thành T : Anh Huỳnh Đ , sinh năm 1978
Đi ̣a chi: 191 đường 3/2, tổ 2, phường N, thị xã G, tỉnh Đăk Nông. Có mặt.̉
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Hữu C, sinh năm 1953
Địa chỉ: Thôn 1, xã N, huyeän Ñ, tænh Ñaêk Noâng. Có mặt.
Ông Trần Văn B, sinh năm 1951
Địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Có mặt.
Anh Nguyễn Hữu S, sinh năm 1977
Địa chỉ: Thôn 1, xã N, huyeän Ñ, tænh Ñaêk Noâng. Có mặt.
NHẬN THẤY:
Bị cáo Trần Hữu P bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Trần Hữu P và Nguyễn Hữu S có mối quan hệ là bạn chơi với nhau. Thời điểm tháng 6 năm 2007, P sinh sống tại nhà S ở thôn 1, xã N, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông. Vào khoảng 11 giờ ngày 06/06/2007 gia đình anh T ở thôn 5, xã N, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông tổ chức đám giỗ có mời S và anh Nguyễn Thành T, trú tại: Thôn 11, xã N, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông (ở thời điểm năm 2007 ở sát nhà S) đến tham dự. P mặc dù không được mời nhưng đi cùng S đến đám giỗ nhà anh T.
Sau khi ăn đám giỗ xong, S chơi cờ tướng cùng anh D là anh của anh T còn P và anh T đứng bên cạnh xem. Trong lúc xem đánh cờ giữa P và anh T xảy ra tranh cãi, mâu thuẫn với nhau về việc người chơi đi một nước cờ rồi rút lại nhưng được mọi người can ngăn nên mọi người ra về. Sau đó anh T đi về ngôi nhà đang xây ở thôn 11, xã N, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông để phụ hồ cùng anh trai của T là anh Nguyễn Thành L, còn P và S đi đến thôn 3, xã N, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông uống cà phê. Uống cà phê xong, P và S đi về nhà S. Khi đi ngang qua căn nhà mà anh T và anh L đang xây dựng thì P và S nhìn thấy anh L. P, S dừng xe lại mục đích để nói cho anh L nghe về việc giữa P anh T mâu thuẫn trước đó ở đám giỗ nhà anh T. Lúc này anh T dùng một cây xẻng loại dùng để trộn hồ chạy từ phía sau ngôi nhà đang xây đi đến vụt một cái về phía P, P giơ tay trái lên đỡ thì bị phần lưỡi xẻng trúng vào khuỷu tay và mé đầu bên trái gây chảy máu. Anh L thấy vậy đã vào can ngăn không cho P và T đánh nhau nữa. Anh T lấy xe máy đi về hướng xã N, còn S cũng chở P đi về nhà S. Đi được khoảng gần 01 km đến đoạn ngã ba Cùi Chỏ thuộc xã N, P và S phát hiện thấy anh Tđang điều khiển xe máy đi phía trước. P rút dây thắt lưng của mình ra cầm trên tay và nói S đi xe áp sát vào xe của anh T. Khi xe S điều khiển song song với xe anh T thì P dùng dây thắt lưng vụt trúng phần mặt thắt lưng bằng kim loại vào vùng lưng anh T. Sau đó S tiếp tục điều khiển xe chở Pvề nhà S. Anh T do bị P đánh nên quay xe lại tìm gặp anh L rồi cả hai anh em đi vào nhà S tìm P, S nhằm mục đích giải quyết mâu thuẫn.
Đến khoảng 14 giờ cùng ngày anh L và T đi đến nhà S. Lúc này tại nhà S có ông Nguyễn Hữu C là cha đẻ của S ở nhà. T xuống xe lấy ra một chiếc búa đóng đinh là dụng cụ lao động của T để dưới yên xe và đứng bên ngoài sân nhà chửi bới, thách thức Phương và Sơn. Phương lấy một cây cuốc sạc cỏ, Sơn lấy một con dao phát đuổi đánh anh T. Anh T bỏ chạy đến vị trí sân đất giáp mảnh vườn trồng điều xen cà phê trước nhà S thì bị P dùng cuốc sạc cỏ đánh trúng ngón út bàn chân trái. Anh T bỏ chạy về nhà lấy một con dao phát rồi tiếp tục sang đánh nhau với P và S. Lúc này ông C đóng cửa chính lại để ngăn cản không cho P, S ra ngoài đánh nhau với anh T. Anh T đứng ở bên ngoài chửi bới xúc phạm P, S. Do bực tức nên P cầm cuốc, S cầm dao phát chạy từ lối cửa bếp ra đánh nhau với anh T. Thấy P và S cầm cuốc và dao phát nên anh T bỏ chạy. Anh T chạy băng qua vườn trước nhà S đến đoạn đường đất đối diện nhà S thì bị vấp ngã nằm sấp mặt xuống đường. S chạy đến đứng phía dưới chân anh T dùng dao phát chém một nhát trúng vào vùng mông, mặt sau đùi phải của anh T. Sau đó P và S vứt lại hung khí và cùng nhau bỏ trốn còn anh T được mọi người đưa đi cấp cứu.
Tại bản giám định pháp y số 141/TT/GĐPY ngày 04/7/2007 của Tổ chức giám định pháp y tỉnh Đắk Nông kết luận kết quả thương tật của anh Tcó tỷ lệ:
Vết thương vùng mông đùi phải, đứt gân cơ mông lớn, cơ nhị đầu đùi, cơ bám gân, cơ bám mạc; Hạn chế gấp háng nhiều, đi lại đau: Tỷ lệ 25%.
Các vết thương phần mềm khác: Tỷ lệ 03% cộng lùi # 02%.
Tổng số: 25% + 02 % = 27%
Tỷ lệ thương tật toàn bộ: Hai mươi bảy phần trăm.
Vật chứng của vụ án thu giữ được: 01 con dao rựa dài 94cm, cán gỗ, đường kính 03cm, lưỡi sắt dài 32cm, rộng 3,4cm, mũi dao quắm nhọn, có một cạnh sắc, một cạnh tù, dao đã qua sử dụng; 01 cây cuốc (sạc lai) dài 1,36m, cán tre đường kính 03cm, lưỡi sắt hình bán nguyệt kích thước (28,3 x 15,5)cm, đã qua sử dụng.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk R’Lấp, Trần Hữu P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Ngoài ra P và ông Nguyễn Hữu C còn khai anh T có hành vi đập phá, gây hư hỏng bàn thờ thiên ở ngoài sân, cửa chính của gia đình ông C. Tuy nhiên anh T khai nhận không có hành vi đập phá tài sản của nhà ông C. Việc bàn thờ thiên nhà ông C bị đổ là do khi P, S đuổi đánh anh T bỏ chạy đã va phải bàn thờ gây đổ. Anh T, anh L và bà Hoàng Thị G là mẹ anh T khai ông Nguyễn Hữu C có những lời nói kích động, cổ vũ P, S đánh gây thương tích cho anh T. Những nội dung trên quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk R’Lấp đã điều tra, thu thập chứng cứ nhưng không có căn cứ để khẳng định việc T đập đổ bàn thờ và việc ông C có hành vi kích động, cổ vũ P, S gây thương tích cho anh T.
Về trách nhiệm dân sự: Trong qúa trình giải quyết vụ án bị cáo Trần Hữu P đã tác động gia đình bồi thường cho anh Nguyễn Thành T số tiền 2.500.000 đồng. Đối với các yêu cầu còn lại đã được giải quyết tại Bản án số: 45/2017/HSST, ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’lấp
Căn cứ vào các tình tiết chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở
Tại bản cáo trạng số 41/CTr - VKS ngày 20 tháng 7 năm 2017 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp quyết định truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Đắk R’Lấp để xét xử bị can về tội “Cố ý làm gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; Điều 60 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Hữu P từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 con dao rựa dài 94cm, cán gỗ đường kính 03cm, lưỡi sắt dài 32cm, rộng 3,4cm, mũi dao quắm nhọn, có một cạnh sắc, một cạnh tù, dao đã qua sử dụng; 01 cây cuốc (sạc lai) dài 1,36m, cán tre đường kính 03cm, lưỡi sắt hình bán nguyệt kích thước (28,3 x 15,5)cm, đã qua sử dụng là công cụ bị can dùng vào việc phạm tội hiện còn không giá trị sử dụng
Về trách nhiệm dân sự: Trong qúa trình giải quyết vụ án bị cáo Trần Hữu P đã tác động gia đình bồi thường cho anh Nguyễn Thành T số tiền 2.500.000 đồng. Đối với các yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự của anh T đã được giải quyết tại Bản án số: 45/2017/HSST, ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’lấp nên không đề cập giải quyết
Tại phiên toà bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa người bị hại cũng thừa nhận mình cũng có một phần lỗi khi gây bức xúc cho bị cáo, dẫn đến bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Hữu P khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào ngày 06/06/2007, tại nhà anh T ở thôn 5, xã N, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông, khi xem đánh cờ tướng giữa bị cáo Trần Hữu P và anh Nguyễn Thành T xẩy ra mâu thuẫn nhưng được mọi người can ngăn. Sau đó anh T đi về làm phụ hồ tại thôn 11, xã N, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông thì S và P đi vào gặp anh trai của P để nói chuyện, tại đây P bị anh T dùng cây xẻng đánh vào tay trái gây xây xát. Khi anh T, P và S đang đi cùng đường về hướng xã N, khi phát hiện anh T, P rút dây thắt lưng của mình ra vụt trúng phần mặt thắt lưng bằng kim loại vào vùng lưng anh T. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày tại nhà S ở thôn 1, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, bị cáo Trần Hữu P đã có dùng cuốc sạc cỏ đánh trúng ngón út bàn chân trái của anh T, S đã có hành vi dùng dao phát chém một nhát trúng vào vùng mông, mặt sau đùi phải của anh T gây thương tích. Tại bản giám định pháp y số 141/TT/GĐPY ngày 04/7/2007 của Tổ chức giám định pháp y tỉnh Đắk Nông kết luận kết quả thương tật của anh T như sau:
Vết thương vùng mông đùi phải, đứt gân cơ mông lớn, cơ nhị đầu đùi, cơ bám gân, cơ bám mạc; Hạn chế gấp háng nhiều, đi lại đau: Tỷ lệ 25%; các vết thương phần mềm khác: Tỷ lệ 03% cộng lùi # 02%. Tổng số: 25% + 02 % = 27%.
Do đó, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Trần Hữu P phạm tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự như kết luận của kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, làm mất trật tự an toàn xã hội gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần xử lý nghiêm.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Hành vi của các bị cáo vi phạm tình tiết định khung tăng nặng “Dùng hung khí nguy hiểm” nên bị xét xử ở khoản 2 Điều 104 của Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:
Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đã tác động cha bị cáo tự nguyện bồi thường cho người bị hại với số tiền 2.500.000 đồng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 con dao rựa dài 94cm, cán gỗ đường kính 03cm, lưỡi sắt dài 32cm, rộng 3,4cm, mũi dao quắm nhọn, có một cạnh sắc, một cạnh tù, dao đã qua sử dụng; 01 cây cuốc (sạc lai) dài 1,36m, cán tre đường kính 03cm, lưỡi sắt hình bán nguyệt kích thước (28,3 x 15,5)cm, đã qua sử dụng là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội hiện còn không giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Trong qúa trình giải quyết vụ án bị cáo Trần Hữu P đã tác động gia đình bồi thường cho anh Nguyễn Thành T số tiền 2.500.000 đồng. Đối với các yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự của anh T đã được giải quyết tại Bản án số: 45/2017/HSST, ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’lấp nên không đề cập giải quyết
Đối với hành vi của Nguyễn Hữu S đã được xét xử tại Bản án số: 45/2017/HSST, ngày 22 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’lấp nên không đề cập giải quyết
Đối với ông Nguyễn Hữu C và ông Trần Văn B đã tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Thành T số tiền 5.000.000 đồng, tại phiên tòa ông C và ông B không có ý kiến gì đối với số tiền trên nên không để cập giải quyết
Xét quan điểm và đường lối xử lý của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tại phiên tòa là có căn cứ, tuy nhiên vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là nhẹ, không tương xứng với hành vi phạm tôi của bị cáo, nên Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo mức hình phạt cao hơn mức đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Hữu P phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1 Điều 46; khoản 1, khoản 2 điều 60 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Hữu P 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/9/2017).
Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông và gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao rựa dài 94cm, cán gỗ đường kính 03cm, lưỡi sắt dài 32cm, rộng 3,4cm, mũi dao quắm nhọn, có một cạnh sắc, một cạnh tù, dao đã qua sử dụng; 01 cây cuốc (sạc lai) dài 1,36m, cán tre đường kính 03cm, lưỡi sắt hình bán nguyệt kích thước (28,3 x 15,5)cm, đã qua sử dụng là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội hiện còn không giá trị sử dụng.
3. Về án phí: Áp duïng khoản 2 Ñieàu 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23, Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội: Buộc bị cáo Trần Hữu P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bị hại, người đại diện cho người bị hại, ngöôøi có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND H. Đắk R’Lấp; - Chi cục THADS H. Đắk R’Lấp; - Công an H. Đắk R’Lấp; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Các bị cáo; - Người bị hại; - Lưu HS, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Hồng |