- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa: Huỳnh Văn N - Ngô Thị Hồng K"
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| ÂU THÀNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B 49/2017/HNGĐ-ST. Ng 25/8/2017. V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
ÂU THÀNH
-
-
Ông Ng
.
1/ Bà Phạm Thị Em.
2/ Ông Trần Văn Phước.
-
Hoàng Thị Tuyết -
Châu Thành
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Hiền Diệu - Kiểm sát viên.
25
8 năm 2017,
Châu Thành
;
Châu Thành
244/2017/TLST-
01
6 năm 2017
“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” 44/2017/QĐXXST-
14
7 năm 2017
1/ Nguyên đơn: Anh Huỳnh Văn N -
A,
B,
C,
ở hiện nay: Ấp D, xã E, huyện C, tỉnh Bến Tre (có mặt).
2/ Bị đơn: Chị Ngô Thị Hồng K - Sinh năm: 1978. Nơi đăng ký HKTT: Đường M, Phường N, quận O, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện tại: Ấp P, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
- Tại
10
5 năm 2017, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm,
anh Huỳnh Văn N
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Ngô Thị Hồng K kết hôn vào năm 2012 và đã được Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 18/12/2012, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, hay lừa dối. Anh chị
chị K ghi số đề, anh có khuyên răn nhưng không được, và do cha mẹ của anh đã già nhưng chị K không đồng ý cùng anh về sống chung và chăm sóc cho cha mẹ. Mặc dù, vẫn sống chung một nhà nhưng kể từ đầu năm 2016 thì giữa anh chị mạnh ai nấy sống, không quan tâm gì đến nhau. Kể từ tháng 3 năm 2017 đến nay thì mỗi người sống mỗi nơi và không thể nào đoàn tụ được.
tình cảm vợ chồng là không còn, hôn nhân không còn hạnh phúc nên anh N
chị K, không yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
nuôi con chung: Anh và chị K có một người con chung là Huỳnh Khánh V - Sinh ngày 17/5/2013, hiện đang sống chung với chị K. Khi ly hôn, anh N đồng ý để chị K được quyền nuôi con, anh sẽ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với mức cấp dưỡng là 1.000.000đồng/tháng kể từ khi Tòa án sơ thẩm giải quyết xong vụ án cho đến khi người con chung tròn mười tám tuổi.
chung, về nợ chung: Anh N cho rằng anh và chị K không có tài sản chung, không có nợ chung.
- Tại bản tự khai ngày 19 tháng 6 năm 2017 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là chị Ngô Thị Hồng K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị K đồng ý với lời trình bày của anh N về thời gian kết hôn, việc kết hôn của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc hay lừa dối. Chị và anh N chung sống hạnh phúc được hai năm thì phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế gia đình còn khó khăn, anh N lại không cùng chị chăm lo cho gia đình, chị không có thời gian để chăm sóc cha mẹ chồng nên từ đó giữa vợ chồng phát sinh tranh chấp. Trước đây chị có ghi số đề nhưng chị đã từ bỏ việc này cách nay khoảng hai năm. Mặc dù vẫn đang sống ly thân, nhưng chị K cho rằng chị vẫn còn thương chồng, hiện nay kinh tế gia đình bớt khó khăn, chị có thời gian để chăm sóc con và cha mẹ chồng nên chị không đồng ý ly hôn. Nếu Tòa án giải quyết chị và anh N phải ly hôn thì chị không yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
Về nuôi con chung: Chị K đồng ý với lời trình bày của anh N về việc anh chị có một người con chung là Huỳnh Khánh V - Sinh ngày 17/5/2013, hiện đang sống chung với chị. Trường hợp Tòa án giải quyết chị và anh N ly hôn thì chị yêu cầu được nuôi con, yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với mức cấp dưỡng là 1.000.000đồng/tháng kể từ khi Tòa án sơ thẩm giải quyết xong vụ án cho đến khi người con chung tròn mười tám tuổi.
chung, về nợ chung: Chị K cho rằng chị và anh N không có tài sản chung, không có nợ chung.
- Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre phát biểu:
Đương sự
Châu Thành
Căn cứ vào các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 107, 110 của Luật Hôn nhân và gia đình; nghị quyết số:
:
anh Huỳnh Văn N đối với chị Ngô Thị Hồng K. con chung: Giao cho chị K
tiếp tục con chung của anh chị Huỳnh Khánh V - Sinh ngày 17/5/2013; anh N
hàng tháng
1.0
kể
chung
chung
Về án phí: Đương sự phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
:
[1] Anh Huỳnh Văn N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với chị Ngô Thị Hồng K có địa chỉ tại ấp P, B, huyện C, tỉnh Bến Tre nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy đị
các điều 28, 35
39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] 179
chị Ngô Thị Hồng K
lần thứ hai nên Tòa án
chị K
227 Điều
[3] Về quan hệ hôn nhân:
k
anh N với chị K
hay
pháp luật
công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, anh N
không còn hạnh phúc nên
nhưng chị K không đồng ý ly hôn. Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy lời trình bày của anh N về nguyên nhân phát sinh tranh chấp cũng như về thời gian anh chị sống ly thân là thực tế có xảy ra. giữa anh N và chị K đã phát sinh mâu thuẫn từ đầu năm 2016, từ đó giữa anh chị mạnh ai nấy sống mà không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau trong cuộc sống, và cho đến hiện nay anh chị vẫn đang sống ly thân mà không thể đoàn tụ được từ đó cho thấy cuộc hôn nhân của anh chị đã
anh N đối với chị K
Anh N, chị K không yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn nên ghi nhận.
[4]
nuôi con chung: Anh N và chị K có một người con chung là Huỳnh Khánh V - Sinh ngày 17/5/2013, hiện đang sống chung với chị K. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị K yêu cầu được tiếp tục nuôi con, yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với mức cấp dưỡng là 1.000.000đồng/tháng kể từ ngày tòa án sơ thẩm giải quyết xong vụ án cho đến khi người con tròn mười tám tuổi nếu như Tòa án giải quyết chị và anh N phải ly hôn. Anh N đồng ý với yêu cầu về việc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con nêu trên của chị K. Vì vậy, giao cho chị K được quyền nuôi con, anh N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với mức cấp dưỡng là 1.000.000đồng/tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi người con tròn mười tám tuổi là phù hợp với quy định tại các điều 81, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình.
[5]
chung
chung: Anh N, chị K không yêu cầ
ồng thời Tòa án nhân dân huyện Châu Thành
cũng không nhận được đơn yêu cầu giải quyết về nợ có liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6]
Anh N
và là người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên anh phải
300.000đ (ba
và 300.000đ (ba
cấp dưỡng nuôi con.
ều 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 của Luậ
Tuyên:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Anh Huỳnh Văn N được ly hôn với chị Ngô Thị Hồng K. Anh Huỳnh Văn N, chị Ngô Thị Hồng K không yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
Chị Ngô Thị Hồng K được quyền tiếp tục, trực tiếp nuôi người con chung giữa chị với anh Huỳnh Văn N là Huỳnh Khánh V - Sinh ngày 17/5/2013 (hiện đang sống chung với chị K).
Anh Huỳnh Văn N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với mức cấp dưỡng là 1.000.000đồng/tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/8/2017) cho đến khi người con tròn mười tám tuổi.
Anh Huỳnh Văn N
hị K anh N.
ỳnh Văn N, chị Ngô Thị Hồng K hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luậ
Khi có lý do chính đáng, anh Huỳnh Văn N, chị Ngô Thị Hồng K có thể thỏa thuận việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, phương thức cấp dưỡng nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
3/ Về
Anh N, chị K không yêu cầ
ồng thời Tòa án nhân dân huyện Châu Thành
cũng không nhận được đơn yêu cầu giải quyết về nợ có liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Anh Huỳnh Văn N phả trăm ngàn đồng) tiề
ề
ngàn đồng) tiề
ề
ấp dưỡng nuôi con, tổng cộng là 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng); nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là: 300.000đ (ba trăm ngàn đồ
ố 0010061 ngày 29 tháng 5 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Bến Tre; anh Huỳnh Văn N còn phải tiếp tục nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiề
ẩm.
Anh Huỳnh Văn N có mặt tại phiên tòa
ờ
chị Ngô Thị Hồng K vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết; Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạ
ể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre giải quyết lạ
ủ tục phúc thẩm.
6 -
;
-
- UBND xã B;
(Đã ký) -
Châu Thành;
Nguyễn Văn Nguyên -
C; -
--